Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2014

"Rửa tội"

Hồi nhỏ ở làng mình có lão già dịch nghèo khó, ốm cà tong, cà teo. Nghề kiếm sống của lão già ấy là đạp chiếc xe đòn dong đi bán đá lửa, hột quẹt, dầu lửa, tim đèn,.. Lão nghèo đến nỗi quần áo rách bươm, đầu tóc bạc phơ, râu để dài đến rốn. Trên người lão lúc nào cũng vận hai cái áo rách như tổ đĩa. Cổ quấn chiếc khăn rằng màu cháo lòng sặc sụa mùi thuốc lá, mùi mồ hôi đã lâu ít khi tắm.
Chiếc Xe đòn dong cà khổ của lão chỉ là khung sắt hoen gỉ, chẳng còn ký ức màu sơn của một thời. Cái vỏ xe còn kinh khủng hơn nhiều. Lão đi xe đạp không ruột. Để có thể chạy được trên con đường làng gồ ghề, lão cập nhiều lớp vỏ vào rồi dùng ruột cao su quấn thật cẩn thận. Giống như thời nay người ta dùng bánh cao su đặc để đẩy xe cút kít vậy?
Đồ nghề kiếm cơm độ nhật của lão là chiếc túi thầy tu màu vàng bạc phết được treo cẩn thận ở đằng trước tay lái.
Hàng ngày lão đạp xe khắp làng trên xóm dưới bán cho mấy bà nông dân, thanh niên, mấy cụ già,... cà khổ sau thời hậu chiến tranh miền nam mua để nhúm lửa, đốt thuốc rê,..
Lão già được dân trong xóm đặt biệt danh ông già be he vì cái tật dê lộ liễu, và câu rao hàng danh bất hư truyền của lão. Thời ấy lão đâu chừng 70 cái xuân xanh. Mỗi khi rao bán hàng lão thường nói "Ai mua quẹt, đá lửa, tim đèn không, be he he e e...."
Mấy bà nông dân trong xóm rất ngại khi phải mua hàng của lão vì cái tánh dê chẳng nể nang ai. Gặp mấy bà "hôm qua đi nhận xác chồng" lão lại càng dê tợn! Bà nào sống một mình, tính tình lẳng lơ là lão xáp tới mò vú ngay.
Hồi ấy trong xóm có mợ Năm Giòn, chồng chết trận năm sáu tám. Mỗi lần đạp xe qua đây, lão cố tình dừng lại thật lâu để mong nhìn thấy mợ!?
Mợ năm có bốn người con. Mợ còn trẻ, tướng người thắt đáy lưng ong. Mợ có cặp vú đầy đặn chết người. Ba chồng sợ mợ đi bước nữa nên bắt mợ ăn trầu, mặc quần đáy nem trông sao cho già quéo đi!
Cứ mỗi lần đứng đấy, tiếng rao của lão càng khiêu khích hơn. Ông năm Điểu-cha chồng mợ căm lão lắm. Có lần ổng chửi lão một trận. Từ đó lão cạch không dám nhìn mợ nữa. Mỗi khi đạp xe qua lão chỉ thở dài, rồi rao mà không đệm vào từ be e heeee ở cuối câu!
Dân làng bảo, hồi nhỏ lão tu hành đạt phẩm hạnh thuộc hàng cao quí. Nghe đâu đã từng làm trụ trì chùa ở hàng nhất phẩm. Tiếc thay vì vận số, vì tục luỵ mà lão cựu sư cụ không giữ được mình. Hồi trẻ người ta bảo lão đẹp trai, lại có tài ăn nói nên thí chú đi chùa cúng dường chư phật, thành tâm xám hối, cầu nguyện an lành đâu không thấy, chỉ thấy sư cụ thò lỏ dòm như chó nhìn cứt trôi sông lòng thòng nhễu nhại, thèm thuồng vụng trộm!
Phật tử đàn bà tới chùa ngày rằm hay đêm sáng trăng chỉ thấy thầy áo mão chỉnh tề, đọc kinh tụng niệm. Đám con nhang xì sụp khấn vái. Tàn buổi cầu kinh phật tử quay về nhà, đẫy giấc cho buổi đồng áng ngày may.
Sư cụ lủi thủi hào hứng lui về hậu liêu cùng với thí chủ cúng "giường chiếu", đàm luận phật sự cùng lão.
Tiếng "lành" đồn xa. Mấy lão nông tri điền nổi giận rình mò, vớ bẩm sư cụ đang mây mưa tìm chốn cực lạc chẳng qua tu thiền, kinh thỉnh chánh niệm. Đám nông dân nổi giận tận cho sư cụ thức tỉnh bằng côn sắt và nắm đấm. Đuổi cổ sư cụ trần truồng lỏng nhỏng chạy tít ra đồng.
Từ ấy, sư thôi không còn tu hành chi nữa. Đổi lại cho nỗi buồn thất sũng vì chuyện gái gú. Sư dùng dao chặt đứt cái của quý mà vì nó khiến con đường tu nghiệp giải thoát cái khổ, chấm dứt kiếp luân hồi nửa đường gãy gánh!
Duy có điều, lão già vẫn giữ thói quen ăn chay trường cho đến cuối đời.
Hồi nhỏ, trước nhà có hàng tre trúc toả bóng mát quanh năm. Mỗi lần đi bán ngang đây quãng giờ ngọ. Lão dừng xe, dỡ gói cơm lá chuối, ngồi xếp bằng miệng lẩm bẩm cầu kinh. Bữa cơm chốn thiền môn dang dỡ của lão trông thiệt buồn lòng. Gạo đỏ cứng còng queo, vài trái dưa chuột đèo đọt luộc, ít muối mè. Nhìn thấy ông lão ăn, con nít như mình thèm nhỏ giãi. Phải giờ cơm, bưng tô ra ngồi kế bên, khi thì lão sớt cho miếng chao, ít trái luộc. Thuở ấy miếng ăn cứ mà nhớ đời hoài!
Những tưởng sư xử cái nguồn gốc gây ra phiền não là chấm dứt phiền não!?
Chẳng những nỗi vọng thèm khát đàn bà trong lão không hề giảm đi mà có phần biến thái qua trạng thái khác còn kinh khủng hơn. Gặp người nào lẳng lơ là lão cứ thò tay bóp vú chẳng ngại ngùng. Có điều vì cái của nợ ấy chẳng còn, nên nỗi thèm khát đàn bà của lão cứ ứ nghẹn trong ánh mắt và hành xử qua thói quen sàm sỡ!
Nghĩ về câu chuyện làng hồi ấy mới thấy cái liêm sĩ của con người vẫn vọng về trong cách sống. Dầu lão ấy không dứt được nghiệp quyến rũ đàn bà nhưng ít ra lão còn liêm sĩ xử cái làm lão thoả mãn., cái gây cho lão bao phiền não ưu tư!
Tiếc thay, cái muốn trong trí não ấy còn đang sống! Cho dù lão có cắt con cu ấy nhiều lần thì chuyện đàn bà cứ vẫn sống khoẻ như ngày nào!
Kỳ lạ thay, kẻ vô liêm sĩ thời nay trong chốn tu thiền đạo đức tiền nhân thay vì hành động trưởng thượng như lão già be he bán quẹt đá lửa, nay ra lệnh giết đàn bà.
Loáng thoáng đâu đó trong lịch sử, cũng đã hơn một lần cho thấy tay tiền nhân đạo đức ấy cũng đã giết đàn bà để bảo toàn danh dự cho sự trinh tiết của gã khi còn là CON NGƯỜI!
Diệt đối tượng là động cơ, nguyên nhân gây ra phiền não, thay vì diệt ý niệm dục thức dậy trong trí não của lão thầy tu khốn kiếp là chuyện nên làm? Quyền lực nằm trong bàn tay đầy máu, cái ngu biến thành cái ác luôn đồng hiện mãi mãi, phi thời gian.
Tấn trò đời thô bỉ ấy như là minh chứng cho sự liêm khiết? Rằng thoả mãn nhục dục bằng đàn bà, giết đàn bà để quay về nẻo thiện. Phải chăng là tấm gương sáng được nhóm công cụ quyền lực nhiệt tình học tập để thành chánh quả!?

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP Năm 2014. Sửa lại chút đỉnh vẫn xài được.


 Dân Việt Nam sưu tầm và biên soan dựa trên tuyên ngôn độc lập của Hồ Quang.
Hỡi đồng bào cả nước,
"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi".
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Thế mà hơn 80 năm nay từ khi có ĐCS, bọn chúng lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất của dân ta, đền bù với giá rẻ mạt không ai chịu nỗi, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ nhà nước giống nhau ở Trung, Nam, Bắc để thống trị ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng dùng giang hồ đội lốt thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các người yêu nước của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng bán bia , rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột, tham nhũng dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên, ngoại trừ tư bản thân hữu và tư bản đỏ. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Mùa thu năm 1988, phát xít Tàu đến xâm lăng Gạc Ma để mở thêm căn cứ đánh ta ở Biển Đông, chúng hoàn toàn yên lặng, quỳ gối đầu hàng bằng hội nghị thành đô, mở cửa nước ta rước Tàu thêm một lần nữa. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Đảng cộng sản Trung Quốc và Đảng cộng sản Việt Nam. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Nam Kỳ ra trung kỳ rồi đến Bắc kỳ kinh tế ta suy sụp hoàn toàn. Theo khảo sát mới nhứt để thoát ra cái bẫy sập trung bình thì nước ta cần 44 năm nữa.
Ngày 1 tháng 5 năm nay, TQ ngang nhiên đặt giàn khoan vào Biển Đông. BCT hèn nhát hoàn toàn im lặng, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo vệ được chủ quyền quốc gia mà chúng đã bán nước ta hai lần cho Tàu.
Trước ngày 16 tháng 7, biết bao lần người dân đã xuống đường kêu gọi bọn Tàu cộng rút giàn khoan, kêu gọi nhà nước, BCT thôi hèn với giặc ác với dân cùng liên minh với dân để chống lại hành vi xâm phạm chủ quyền trắng trợn của chúng.BCT-ĐCS đã không đáp ứng lại mà còn thẳng tay khủng bố người yêu nước hơn nữa. Thậm chí đến ngày 15 tháng 7 khi thua chạy-TQ đã rút giàn khoan Hải Dương ra khỏi Biển Đông, chúng còn nhẫn tâm tuyên bố đó là nhờ thiên tài Đảng ta.
Tuy vậy, đối người CS, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 1 tháng 5, dân ta đã đón nhận nhiều người dũng cảm bỏ đảng quay về với quần chúng và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.
Sự thật là từ sau Hội Nghị Thành Đô năm 1990, nước ta đã thành thuộc địa của Tàu, chứ không phải thuộc địa của Nga nữa. Nay là lúc nhân dân cả nước phải nhận rõ sự thực này để nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Cộng hòa.
Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Tàu, chứ không phải từ tay Nga.
Ba X chạy, Hói hàng, vệ Kính Vương thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích CS gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ độc tài mấy mươi năm qua mà lập nên chế độ Cộng hòa.
Bởi thế cho nên, chúng tôi, Người Dân của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Trung Quốc, xóa bỏ hết những hiệp ước mà TQ đã ký với nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của TQ trên đất nước Việt Nam.
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân bành trướng Bắc Kinh.
Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng, nhân quyền tại Liên Hợp Quốc, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Tàu hơn 1000 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng lên chống độc tài cộng sản mấy chục năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
Vì những lẽ trên, chúng tôi, người dân của nước Việt Nam Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

Dì Tư Xom.

Hồi còn sống ở cái làng An Hiệp bé tẹo, nghèo khó. Đất đai là công cụ sản xuất của Đảng giao cho dân bị Hà Bá ngày đêm xà xẻo! Dân tình nhộn nhạo mai dỡ nhà, mốt dựng nhà. Cứ điệp khúc này mà hát mãi nên nhà ngày càng bé tẹo và tạm bợ hơn! Nhà mình chẳng khá gì hơn là cái chòi lá của trẻ con thuở chơi nhà chòi.
Đối diện với căn hộ rách bươm nhà mình phía bên kia sông là nhà dì tư Xom. Dì tư dáng người nhỏ thó, miệng rộng, ăn nói sang sảng như đàn ông. Miệng lúc nào cũng bỏm bẻm nhai trầu. Ngán nhất là mỗi khi bả qua nhà chơi trong lúc miệng đang nhai trầu. Cứ bạ đâu phun đó. Vì là khách đến chơi nhà nên không cách chi nói được với dì. Nhà thì nền đất chỗ nào di tư phun trầu nó cứ nhão ra. Đã thế khi nhai trầu nước dãi màu đỏ ứa ra hai mép, dì tư dùng ngón trỏ và ngón cái quẹt mồm rồi quệt lên thành ghế hay vách nhà thiệt là ớn hết sức!
Dì tư có tật là ghé nhà mình có khi ngồi nói chuyện đến khuya. Dì nói bất kể chuyện chi. Nói về gia đình dì, tố khổ cái lão chồng dâm loàn đã bỏ dì theo người đàn bà khác. Nói về đám con dì, con dâu dì,...Nhiều khi nói những tình huống khiến dì cười đái trong quần luôn! Oải nhứt là khi đang học bài gặp dì tư qua chơi nhà, y như rằng sáng hôm sau tiết kiểm tra miệng ăn phải con ngỗng là chuyện thường tình. Hồi nhỏ học hành dỡ hơi. Bài chi thuộc lòng phải gạo đi gạo lại cả tiếng mới may ra nhớ lõm bõm!
Nhà di tư Xom không có đất ruộng trồng lúa. Dì bảo, tao trước kia nhà cũng có cả chục công ruộng trồng lúa một vụ rất trúng. Nhưng cái thằng chồng cặt ngựa câu kết với con đĩ lồn lừa đã lừa bán cho người khác rồi!?
Thu nhập chính của Dì tư Xom là cách nhật chèo xuồng sang phía bên kia bờ sông Tiền, thuộc huyện Cao Lãnh để hái rau muống mọc dại về bó thành từng lọn nhỏ rồi đem ra chợ Sa Đéc bán lấy tiền đổi gạo! Hồi đó người dân quê tôi gọi vùng đất màu mỡ phía bên kia sông Tiền là bên cồn. Cồn tức là vùng bãi bồi phù sa. Nơi đó dân chúng thưa thớt, đất còn hoang hoá. Bãi bồi có nhiều tôm cá, rau cỏ mọc xanh um, cực kỳ tươi tốt. Đặc biệt rau muống đỏ, cọng nào cọng nấy mập ú cỡ ngón tay cái, Rau trai cọng to bằng ngón tay trỏ, hái về luộc, ăn mềm và ngọt. Ăn cơm bằng rau này luộc chắm mắm kho quẹt là số dzách!
Mắm kho quẹt của người nhà quê miền tây khác một trời với món kho quẹt chấm rau tập tàng trong mấy nhà hàng quán nhậu đất Sài Gòn. Kho quẹt của người miền tây là nước mắm bỏ vào cái ơ đất nung đặt lên bếp củi và đun chừng nào cạn còn lại hổn họp sền sệt như muối. Món kho quẹt tuỳ chỗ giàu nghèo mà có thêm chút đỉnh sự khác biệt, khi thì thêm vào ít tép mỡ, mấy trái ớt hiểm xanh. Kho quẹt chấm rau luộc, rau sống chỉ tổ vở nồi cơm nhà nghèo. Thời đó gạo vốn là thứ chính trong bữa ăn hàng ngày. Ngoài trời mưa lâm thâm ăn cơm với nước mắm kho quẹt là sướng nhứt. Ăn xong một đập hai xoa leo lên giường trùm chăn ngủ một mạch tới sáng còn chi bằng!
Phần lớn người làng tôi đều sang cồn để kiếm sống. Nào là đánh cá, chất chà cá he, chà tôm, cào hến, chặt ngó bần về làm củi đốt, hái rau muống, làm thuê cho mấy chủ đất giàu có bên kia,...
Dì tư làm việc cần mẫn hàng ngày. Trong đời chưa thấy người đàn bà nào cực khổ như dì. Ngày nắng hay ngày mưa gì bà cũng đều đặn làm cái công việc cực khổ đó mình ên. Sáng tầm 3 giờ sáng, dì tư dậy nấu cơm gói vào lá chuối với ít con khô, múc một ấm nước lóng phèn đem xuống xuồng, rồi bơi một mình sang kia sông để hái rau muống. Công việc bơi xuồng ghe nhỏ qua sông Tiền trong mùa mưa bão thường gặp nhiều rủi ro chết người. Sợ nhất là lúc giông gió thời điểm vượt sông. Mặt sông đang yên lặng bỗng sóng nổi cồn cao 2-3 mét, quật từng cơn thì xuồng ghe nhỏ, chở khẳm là bị nhấn chìm như chơi. Làng tôi chứng kiến nhiều vụ lật xuồng rất thương tâm!
Hồi đó có con bé tên Sáu Sậu cũng cỡ tuổi mình có mang đâu chừng sáu tháng đi cấy bên cồn về xuồng bị giông lốc nhấn chìm. Trên xuồng có 6 người. Ba người chết trong đó có Sáu Sậu và đứa con hài nhi trong bụng! Xác Sáu Sậu trôi tuốt xuống bến phà Mỹ Thuận phải bốn ngày sau người nhà mới tìm thấy đã trương phình! Sáu Sậu chết lúc mới 16 tuổi cùng với đứa con không biết ai là ba nó!? Sáu Sậu mồ côi cha mẹ, ở với ông ngoại có thời đi lính cho Tây tận Algieri!
Thường dì tư đi từ sáng sớm đên tối mịt mới trở về nhà. Ngoài đống rau muống ngập xuồng còn có mấy trái bần chín cây, bắp chuối xiêm, xoài chín,...dì bảo là lượm trong các bờ đê bao!? Về nhà bà cột cái xuồng vào bến rồi một mình lúi húi vác lên bờ để lặt là già, lá sâu xia, cắt bỏ rể mọc từ nách lá, bó thành từng lọn cỡ cổ tay người lớn bằng cọng lá chuối khô xé nhỏ. Thường dì chỉ làm việc một mình. Có nhiều đêm dì làm cho tới gần sáng mới xong. Sau khi đã bó xong, dì lại vác xuống xuồng rồi bắt đầu chèo ghe ra chợ Sa Đéc để bán.
Hồi đó từ làng ra đến chợ Sa Đéc đường sông khoảng chừng 4-5 cây số, chỉ có một con đường ngắn nhất là đi cặp dòng sông Tiền. Ngán nhất là chèo ghe đi vào mùa nước nổi. Vào mùa này, nước phù sa đỏ ngầu từ thượng nguồn đổ về rất mạnh. Suốt mùa nước nổi dòng chảy chỉ một chiều duy nhất. Dòng chảy mạnh đến nỗi nhiều khi ghe trang bị máy đuôi tôm cũng phải ì ạch vượt qua những chổ xoáy hiểm trở. Đó là chưa kể đến hiện tượng đất lỡ hết sức nguy hiểm. Nếu ai xui xẻo đang đi gặp đất lỡ thì xuồng ghe bị hút vào và nhấn chìm tợ như gặp cơn sóng thần nhỏ. Hồi trước nhà mình cũng từng bị mất chiếc ghe vì đất lở. Đất lở ngoài vàm sẽ tạo hiện tượng nước trong các con lạch nhỏ bị hút ra, kéo theo ghe neo đậu trong lạch cũng bị hút theo. Nếu không phát hiện kịp ghe trôi ra sông lớn, mất luôn!
Gặp chổ vịnh, nước chảy yếu dì tư chèo, gặp chổ xoáy nước chảy mạnh không thể chèo được dì tư cặp bờ, leo lên ruộng dùng tay kéo ghe vượt qua! Nhẫn nại, chịu thương chịu khó một mình dì cũng tới chợ. Nhiều hôm nước ngoài ruộng ngập quá lưng quần, dì phải vừa bơi vừa kéo ghe rau muống khẳm đừ! Bán xong bơi xuồng ra sông Tiền thả trôi dòng nước đưa dì về xóm cũ. Nhiều hôm dì tư mệt mỏi ngủ thiếp đi, thuyền trôi tới phà Mỹ Thuận! Cách xa nhà dì cả chục cây số. Đời đã khổ lại càng khổ hơn!
Dì tư có bốn người con, ba trai một gái. Đứa nào dì cũng cực khổ lo cho ăn học. Anh con lớn của dì tư học dang dỡ đại học văn khoa Sài Gòn, về lấy vợ sớm. Gặp cô vợ quá quắt nên dì tư chửi suốt ngày. Đứa thứ hai là gái học trên Sài Gòn rồi lấy anh chồng hải quan gốc bắc kỳ. Anh thứ ba ra làm công thương nghiệp ở tận Hồng Ngự. Còn ở với dì là thằng Út, suốt ngày đi chơi bời lêu lỏng, bỏ học sớm, chả thấy phụ dì tư làm gì hết. Phần là dì tư có tật chửi con cái. Mỗi lần bả chửi mấy tiếng đồng hồ. Chửi con đã, rồi lôi chồng ra chửi. Nhiều đêm dì tư vừa lặt rau muống vừa chửi chồng con ra rả cả đêm. Có khi chửi đã dì ngủ luôn sáng bảnh mắt, quên cả lặt rau. Chuyến chợ đó coi như dành lại cho ngày hôm sau.
Dì tư có tật hay chửi hàng xóm vì chuyện không đâu. Chuyện tàu lá dừa nhà dì rụng xuống nhà bên bị người ta lấy mất làm lá nhúm lửa dì cũng chửi. Về nhà mất cái này cái kia dì nghi ngờ ai là cứ chõ mỏ sang nhà đó mà chửi. Ai nhột lên tiếng chửi lại. Thì ô hô, một trận chiến ngôn ngữ sử dụng linh vật được tung ra!
Dì chửi, nếu không ai phản ứng gì thì cuộc chửi kéo dài chừng tiếng đồng hồ. Chửi lại thì dì chửi tiếp, chửi khi nào khan tiếng thì thôi.
Dì tư không biết chữ nhưng được cái là thuộc rất nhiều ca dao tục ngữ nam bộ. Đêm miền quê yên ắng, một mình dì tư bên cái đèn trứng vịt, những đêm thanh bình không chửi chồng con, hàng xóm thì dì hát đối một mình. Có khi thì dì đọc thơ lục bát của đức Huỳnh giáo chủ. Ba của dì tư nghe nói là tín dồ của phật giáo Hoà Hảo nên nhờ vậy mà dì thuộc thơ của ổng rất nhiều!
Làm lụng cực khổ cả đời như thế mà dì tư sống thọ phết, bà chết nghe đâu cũng gần chín mươi tuổi mặc dù có thời kỳ dì mắc bệnh lao vì lao lực quá sức!
Cuộc đời dì quả thật ứng với câu nói bất hủ " Con người sinh ra chỉ để đau khổ rồi chết!". Dì sống với cả đời cực khổ, chồng thì bỏ, con cái vì ớn cái tánh hay chửi của dì nên chẳng dám đem dì về phụng dưỡng. Cuối đời có rỗi rãnh chút đỉnh...nhờ bệnh tật và cũng chẳng còn sức khoẻ để làm!

Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2014

Làng tôi đâu rồi!?

Hôm nay ngồi buồn bổng nhớ hai câu thơ trong Lục Vân Tiên của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu "Trước đèn xem chuyện Tây Minh. Gẫm cười hai chữ ân tình éo le!". Hai câu thơ gợi nhớ ngày quá khứ ngày xưa khi trở về làng tôi. Ngôi làng nhỏ xíu, trù phú nằm dọc bờ sông Tiền bị tàn phá nặng nề bởi dòng chảy hung hản của con sông mỗi mùa nước nổi tràn về.
Sau 30/75 cả gia đình dắt díu nhau về làng ni sau khi ba đã được tẩy não. Nhà cửa bị tịch thu, bị đuổi việc. Hồi xưa ông già làm hiệu trưởng trường Kỹ Thuật Nông Thôn ở Vĩnh Long. Lúc đó còn nhỏ, chỉ mới mười tuổi. Việc trở về làng nơi chôn nhao cắt rốn của mẹ đối với mình là một chuyện gì to tát và kỳ thú lắm. Không kỳ thú sao được, vì với trí tưởng tượng của thằng nhóc như mình là biết bao nhiêu viễn cảnh tươi đẹp đang chờ đón nó. Nào là tha hồ tắm sông, đi bắn chim, câu cá, đi mò cua bắt ốc,...toàn là tưởng tượng bao nhiêu chuyện để chơi và càng ít nghĩ đến việc đi học chừng nào càng thích chừng đó! Từ một thằng nhỏ thành thị, bước vèo một cái về với thế giới nông thôn, với mình quả là điều hết sức kỳ diệu.
Điều đầu tiên một thằng nhóc như mình cảm nhận được đó là đêm đầu tiên ở thôn quê không có ánh điện. Cả nhà chỉ có mỗi cái đèn dầu Huê Kỳ trứng vịt cháy leo lét. Vì là dân thành phố nên chuyện ăn cơm cũng theo nếp xưa, thông thường bữa tối vào tầm khoảng sau 18 giờ. Cả nhà năm anh em toàn lích nhích. Thằng lớn nhất là mình. Đám em nhỏ nhặng xị đòi ông già mình bật đèn để xem tivi. Ông già mình đành nói dối bọn nhóc là điện bị mất nên không thể xem ti vi được. Mấy đứa nhỏ thấy bóng tối nên càng sợ ma tợn. Mình làm anh thấy tụi nhỏ bảo ma nên cũng cuống cuồng theo.
Cả tháng đầu mỗi khi bóng đêm phủ chụp xuống sau ngày vui chiến thằng, lũ nhóc anh em nhà mình chỉ trùm chăn ngồi túm tụm trên giường chờ đợi bữa cơm tối. Tịnh không một thằng nào can đảm dám mò ra ngoài để đi đái.  Cũng vì cái tính sợ ma này mà thằng em thứ tư của mình dính cái tật đái dầm kéo dài cho tới khi nó 14 tuổi!?
Con người vốn là một sinh vật thích khi khá tốt với sự thay đổi môi trường! Dần dà rồi đám anh em nhà mình cũng bắt đầu hội nhập với đời sống thôn quê. Chúng nó không còn đòi ông già mở điện để xem ti vi, không còn sợ ma như cái hồi mới về. Mình cũng đã can đảm hơn khi dắt mấy thằng em đi đái ban đêm. Sống ở làng quê có cái thú là đái chỗ nào cũng được.
Nhà mình vườn rộng, cây cối um xùm vì bị bỏ hoang mấy chục năm nên đêm về thường nghe tiếng chim cú kêu rùng rợn. Mình nhớ có hồi thằng em thứ tư nhà bị bệnh kéo dài cả tháng. Lúc đó chả có bệnh viện hay thuốc tây gì cả. Tất tần tật nhà mình ai bệnh thì đi trị bệnh mấy thầy lang trong vườn. Thuốc của mấy ông lương y làng tôi chỉ là cây thuốc nam được mấy người làm từ thiện hái về phơi khô chặt nhỏ để làm thuốc. Thằng em bị bệnh ban bạch? bệnh tình thằng nhỏ kéo dài đến nỗi chỉ còn da bọc xương. Mấy ông thầy thuốc nam tiên lượng thằng nhỏ sẽ chết. Đêm nào tiếng đám cú vọ kêu là bà già khóc dữ lắm.
Người miền tây cho rằng tiếng kêu con cú mèo là điềm gỡ!? Còn nhớ hồi nhỏ đọc mấy tờ báo xuất bản trước khi miền nam lưu vong tờ Thần Chung thì phải, có đăng phóng sự trước khi tử hình cậu Út Trầu-Ngô Đình Cẩn thì đêm hôm trước tử hình có con chim cú mèo đậu trên nóc khám Chí Hoà kêu suốt đêm?
Mỗi lần đám cú mèo kêu ông già ra ngoài vườn lượm đá ném để xua đuổi chúng bay đi chỗ khác. Nhờ may mắn có ông thầy Năm Đạt, ông trước đây là thầy giáo làng, ổng có bằng đíp-lôm thời tây cũng hành nghề thuốc nam. Ổng đến gặp ông già mình và nói " thằng nhỏ có lẽ không còn sống được bao lâu. Mọi phương cánh thầy-ba mình cũng đã lo cho nó rồi. Thôi thì phước chủ may thầy. Tôi chỉ còn phương thức cuối cùng may ra cứu được thằng bé" Nói xong ổng kêu ông già bế thằng bé ra ngoài để ổng lể. Lể trong đông y thời đó là dùng mảnh sành sạch cắt lên da đứa em mình. Cắt chỗ nào ổng dùng tay nặn máu chỗ đó. Ổng bảo là máu thằng nhỏ có màu đen? Lể đau đớn vậy mà thằng em mình chả hề khóc tiếng nào, đơn giản vì thằng nhỏ quá yếu để mà có phản ứng lại với đau đớn.
Sau khi lể xong, Cậu Năm Đạt-mình kêu ổng bằng cậu về phòng mạch bốc cho thằng nhỏ một thang thuốc. Ổng nói với ông già sau ba thang mà thằng nhỏ không ngồi dậy ăn cháo thì tôi cũng đành bó tay! Ơn trời sau ba thang thuốc của ổng thằng em mình hồi phục và khỏi bệnh hẳn. Thằng em khỏi bệnh bà già đến quỳ lại cậu năm rồi oà khóc nức nở!
Ông thầy năm Đạt người ốm như que củi, chỉ ăn chay trường. Trong nhà ổng cực kỳ sạch sẽ, ổng sống thanh tịnh. Cứu người nhưng ai đưa tiền ổng đều không nhận và cực kỳ khó tính. Ai có bệnh đến mà có thái độ không phải là đuổi về không điều trị. Thường người bệnh đến điều trị chỉ cần trả công cho ông Năm bằng cách hái mấy cây thuốc mọc hoang về rửa sạch, bỏ bao đem đến để ổng làm thuốc. Mỗi tuần ổng đóng cửa một lần, dắt chiếc xe đạp đòn dong đi kiếm thuốc khắp các vườn trong làng. Vườn nhà mình rộng lại còn khá hoang hoá nên hầu như tuần nào cũng thấy cậu năm lúi húi đào xới để tìm thuốc. Bà già mình thi thoảng có đồ ăn đem biếu nhưng ổng không nhận, phải lén lút đưa cho mợ năm. Ổng mà biết được mợ năm nhận đồ biếu của ai là ổng đánh dữ lắm.
Cậu năm có ba người con, nhà không có ruộng vườn chi cả mấy người con của cậu năm cũng làm thuê, làm mướn trong làng, mợ năm cũng làm thuê. Ba mình hay kêu mợ năm làm cỏ vườn. Bà có tâm rất sạch, nghèo khó vậy mà không bao giờ sơ múi bất cứ cái gì của ai. Làm vườn nhưng hễ thấy trái cây trong vườn rụng, bà đều lượm rồi đem vô cho má mình.
Mỗi khi làm vườn bà năm đều bới cơm đem theo. Buổi trưa của bà thường thấy là muối mè, và ít rau dại hái trong vườn. Khi nào ngon lắm có cái trứng luộc hoặc miếng đậu hủ kho nhỏ xíu!
Anh con lớn của mợ năm tên là Bé Ba, anh này trước đây đi lính chế độ cũ, bị thương nên sau khi về làng thay đổi tính tình suốt ngày nhậu như hủ chìm. Anh năm con út đi bộ đội ở Campuchia bốn năm mới về làng dắt theo cô vợ người Campuchia. Về được năm ngày trở lại Cam rồi biệt tích luôn từ đó.
Chị Bé Tư yêu một người làng khác dắt về nhà giới thiệu cậu Năm không đồng ý. Nghe nói chị khóc hết nước mắt năn nỉ mà ông già cũng không thay đổi quyết định. Bỏ nhà theo trai và biệt tích luôn từ dạo đó. Người trong làng không ai còn thấy chị trở về vì nghe nói cậu Năm đã từ chị và thề độc "tao có chết mày cũng đừng có trở về mà chịu tang". Tội nghiệp mợ năm phận đàn bà cam chịu, bà ngày ngày lầm lũi như chiếc bóng. Ngày ngày đi làm thuê mua gạo để nuôi ông thầy thuốc thanh bần!
Cậu Năm Đạt mất không thấy bất kỳ đứa con nào về chịu tang ông ngoài anh Bé Ba ngồi cạnh quan tài say ngất ngưỡng. Cậu năm mất bà Năm cũng bỏ làng đi ra chợ Sa Đéc ăn mày, bà già yếu quá không ai còn thuê. Ông già mình bảo mợ năm lang thang đi ăn xin thấy đau lòng làm sao!
Bà năm chết vào một ngày mưa khóc lóc tháng bảy. Bà chết không một giọt nước mắt khóc thương nào nhỏ xuống cho bà. Ngày bà chết nghe đâu hội từ thiện cho cái hòm bằng ván gòn, người ta liệm bà trong áo quan rồi đem thiêu. Anh bé ba giờ không còn uống rượu nữa mà hành nghề chạy xe ôm. Ông già thi thoảng có gặp ngoài chợ Sa Đéc. Mỗi lần gặp ảnh hỏi thăm mình "thằng Cu nhà chú giờ làm gì sao không giúp gì được cho chú hay sao mà chú già rồi còn phải đạp xe đạp đi chợ cực khổ vậy chú!?" hic
Nước mình sắp được lên thiên đường tới đít rồi, con người ai cũng có quyền chọn cho mình cảnh khổ để hưởng sái nghĩ thiệt là nhân văn và độc đáo lạ thường! Ai chưa một lần lâm vào cảnh khổ cũng nên thử tham gia vào đám người cùng khổ một lần để nếm trải cay đắng mùi đời cho biết, kẻo sau này có muốn khổ, muốn chết chẳng còn dịp nữa, bởi rồi tất cả chúng ta đều sống mãi như tiên ông Bành tổ đó thôi!

Cậu Ba Thạch.

Ông bà ngoại gốc người Làng Thượng văn khi xưa. Làng bị thuỷ phá nặng nề là do nằm dọc sông Tiền. Thực ra hồi trước vùng đất này là cù lao gồm có nhiều làng nhỏ. Cù lao này nối với đất liền qua cây cầu nhà Thương để bắc qua nhà thương Sa Đéc do pháp xây dựng tại làng Tân Hưng. Cầu này sau giải phóng bị thuỷ phá, lở xuống sông luôn, bệnh viện Sa Đéc cũng chịu chung số phận!
Sau thời gian dài bị thuỷ phá làng Thượng Văn, dân vùng này mới tìm về làng An Hiệp sinh sống trong đó có ông bà ngoại mình. Nhờ chịu khó lao động nên ông bà ngoại cũng tích tụ ruộng đất kha khá. Thời tây ông ngoại cũng thuộc nhóm điền chủ. Vì thế khi ông ngoại dời về làng An Hiệp thì cũng đồng thời kéo mấy người tá điền nghèo, trung thành về cùng với ông, và cả cùng với một số bạn bè của ông ngoại khi xưa ở làng Thượng Văn. Đem họ về thì dĩ nhiên cũng phải cho đất cất nhà tá túc tạo thành một cái xóm nhỏ độ chừng chục nóc gia.
Nhà ông ngoại là điền chủ nên là nhà to nhất trong xóm đó, xung quanh bao gồm các tá điền nghèo, mấy người bạn bợm, bạn câu, bạn đánh bài  nhận đất canh tác của ông ngoại, họ chỉ đóng huê lợi nhỏ hằng năm.
Bởi chẳng lạ, sau năm 75 gia đình nghèo khó của mình về đây được người làng cưu mang và giúp đỡ thật nhiều. Nào là giúp dựng nhà, cho mượn hạt giống gieo trồng cho các vụ mùa mới, hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, cách lật đất phơi khô diệt cỏ dại, bón phân tưới nước và cả giúp luôn việc thu hoạch ra sao, giúp kêu mối lái, giúp bán buôn,...
Hồi về cất nhà trên mảnh đất xưa từng là nhà của ông ngoại, nghe nói cái nhà to ấy cậu hai dỡ đem xây dựng nhà máy lúa bên làng An Tịch. Công việc bết bát thế nào mà bỏ hoang luôn! Cạnh ngôi nhà gỗ của mình là nhà của ông Hai Thủ. Ong già có thú câu cá bông lao trên sông tiền. Mỗi lần thấy ông hai Thủ đi câu trông cực ấn tượng. Dụng cụ đồ nghề bao gồm một cái cần trúc đen nhánh, một cái giỏ đan bằng tre được cột thắt ngang hông, dầu đội nón là và cả một ấm trà nhỏ. Cứ thế ông già đi câu suốt cả ngày ngoài bờ sông không cần ăn gì cả. Thi thoảng ông tợp ngụm nước trà, bập điếu thuôc rê vấn bằng giấy báo.
Có lần ông già câu được con cá bông lao nặng gần 8 ký lô. Đám trẻ trâu như mình cứ mà mơ mãi có ngày cũng được con cá bự tổ chảng kia. Mình cũng ham câu nhưng chỉ toàn là cá bé!
Ông hai Thủ sống rất nhàn hạ. Cả ngày ông chỉ ngồi ở bộ tràng kỷ uống tràl, chỉ dạy đám con cháu các công việc nhà. Mẹ mình bảo ông hai Thủ là bạn đánh bài của ông ngoại. Ông thường cùng ông ngoại đi đánh bài ở mấy dịp cúng đình, giỗ chạp trong làng. Ông làm công việc tay hòm chìa khoá cho ông ngoại. Mỗi khi thấy ông ngoại đánh bài thua tan tác thì ổng không xuỳ tiền ra nữa và úc đó ông ngoại cũng phải biết đứng lên mà đi về! Có lẽ vì quý cái tình này mà ông ngoại đem ông hai Thủ từ làng Thượng Văn về ở cùng? Tính ông hai cũng hiền, lúc nào gặp ổng cũng phì phèo trên môi điếu thuốc vấn ướt nhẹp. vừa nói vừa ho sặc sụa vì khói thuốc. Tóc ông bạc trắng, hai lỗ tai dảo to và hướng về phía trước. Người ta bảo tướng này thông minh và khôn đáo để.
Ông hai có năm người con, hai trai ba gái. Bất hạnh nhất và nghèo khó nhất là cậu ba Thạch người con thứ ba của ông hai. Người trong làng đồn rằng hồi xưa khi cậu ba đi lấy mợ ba, người tỉnh Kiến Phong-Cao Lãnh bây giờ, ông hai có đến nhà để thăm hỏi tình cảnh của bên vợ cậu ba. Người ta bảo bên mợ ba có bệnh điên di truyền. Ông hai biết được tin này nên quyết liệt ngăn cản cậu ba lấy mợ ba. Nghe đâu vì cấm cản mà cậu ba đòi tự vẫn. Thương con ông hai nuốt đắng vào trong, dựng vợ gã chồng cho cậu ba!
Câu ba và mợ ba có với nhau năm người con, bốn trai một gái. Ông hai đặt con theo vần mà ông nghĩ rồi cuộc đời chúng sẽ lanh lẹ. Đá, Bế, Danh, Lanh,Lẹ. Rủi thay lanh lẹ đâu không thấy mà cậu ba nhận được ba thằng con trai đầu đều bị ngớ ngẩn. Riêng chị Bế và thằng út Lẹ may mắn bình thường...để chứng kiến nỗi đau phiền muộn của gia đình. Mợ ba có lẽ là người đau khổ hơn cả. Bà lúc nào cũng mang khuôn mặt sầu khổ vì đã đẻ cho gia đình ông hai đám cháu nội đích tôn đáng buồn như thế!
Anh Đá lớn hơn mình khoảng năm hay sáu tuổi gì đó. Dù tính tình ngớ ngẩn nhưng anh là người cực kỳ sạch sẽ. Lao động giúp cậu ba hết sức chăm chỉ. Nhà cậu ba ngoài thửa ruộng đâu khoảng chục công, mỗi năm trồng một vụ lúa thơm cấy hai lần, cũng thừa gạo để ăn trong gia đình. Ngoài ra nhà cậu ba còn có nghề làm bột gạo nuôi heo. Bột gạo Sa Đéc nổi tiếng vì ngon. Từ bột này mà người ta làm ra bún, hủ tiếu,...
Anh Đá sáng nào cũng thức sớm cho heo ăn rồi xay bột cho cậu ba. Mỗi sáng một mình anh xay 40 chục kí gạo ngâm. Xay xong thì mợ ba bồng bột trong túi vải, anh cho heo ăn và tắm heo. Chuồng heo anh Đá chăm sóc sạch như trong nhà. Đám heo ở trong chuồng da con nào cũng bóng lưỡng, sạch sẽ chẳng dính tí phân. Công việc cứ thế quần quật cả ngày. Tầm khoảng 4 giờ là anh xuống sông tắm gội sạch sẽ, mặc vào người cái áo sơ mi được anh xếp gọn cẩn thận, lót dưới gối nằm cho thẳng thớm. Xong xuôi đâu đó anh thả bộ ngang qua nhà mình đến ngồi lên gốc dừa xiêm nghiên xuống bờ sông, nơi phía bên kia là nhà chị Nghị con bà Tám Xê.
Chị Nghị con gái đầu lòng của bà Tám xê và ông tám mù. Tướng chị Nghị tròn lẳng, làn da con gái miệt vườn trắng hồng, ẩn bên dưới lớp áo bà ba là cặp vú con gái đương thì tròn trịa.
Anh Đá ngẩn ngơ, thiểu năng trí tuệ, ăn nói cà lăm đem lòng yêu chị Nghị. Chiều nào tầm 5 giờ chị Nghị đều xuống sông tắm táp.
Hồi đó con gái làng tôi ai cũng tắm sông, người ta nói nước sông Tiền làm cho da con gái vùng Sa Đéc-Nha Mân trắng mịn màng. Có lẽ nhờ dòng phù sa quý giá bao đời chứa nhiều khoáng chất cũng nên? Anh Đá cứ mỗi khi đến đó là lôi bọc thuốc rê ra vấn một điếu thiệt to. Móc cái hộp quẹt đá lửa, xạch xạch vài cái rít một hơi dài sảng khoái, đôi mắt lim dim hướng về cầu bến sông chờ đợi giây phút thần tiên-chị Nghị đi tắm. Anh Đá nhìn chị nghị tắm thi thoảng rít đầu thuốc đỏ rực trong bóng chiều hoàng hôn chạng vạng. Ngồi lặng lẽ nhìn bất động tợ như bức tượng đá người đàn ông trần truồng chống cằm ngồi trên hòn đá suy tư của danh hoạ Michelangelo. Thoạt đầu, chị Nghị cũng chả thèm để ý gì chuyện cái anh khùng ngồi đó vì phần là thơ ngây con gái miệt vườn!
Một hôm có ông già ba Tiếu cắc cớ đứng sau thò tay bóp chim lúc anh Đá đang trầm tư, phát hiện cái của nợ anh Đá sưng chỏng vó. Ông già la lên "thằng Đá nó mê con Nghị rồi". Sau cái đận tẽn tò ấy chị Nghị mới biết cái nguyên cớ gì khiến anh Đá ngồi đồng bên gốc dừa mỗi chiều buông! Từ dạo ấy, anh Đá ghét cay ghét đắng cái ông già ba Tiếu đã làm anh xấu hổ. Chị Nghị cũng cẩn thận hơn, chỉ tắm khi nào không có cái mặt anh Đá si tình. Người làng bảo con gái mà bị thằng ngớ ngẩn yêu sẽ làm mất duyên con gái. Không biết có đúng không, có điều chị Nghị giờ vẫn mãi phòng không lẽ bóng, chậm chạp đi qua thời gian phiền muộn cô đơn!
Một sự kiện nổi đình nổi đám nhất làng nghèo mình thời đó là việc cô sáu của anh em nhà Lanh Lẹ lấy chồng. Cô sáu làm thư ký cho một công ty thương nghiệp ở Vĩnh Long. Chồng cô sáu là một chú bắc kỳ nhà quê đeo quân hàm trung uý. Dượng sáu tướng ta xấu xí, mặt sắt đen sì sì tợ Hà Tôn Hiến, chằng chịt những vết sẹo lồi trông thật hung ác. Những vết sẹo đó theo lời bà hai là dượng sáu bị thương thời chống Mỹ!
Ngày dạm hỏi cô sáu có cả một đoàn các chú bộ đội xí xào giọng chi cực khó nghe. Ông hai Thủ và bà hai cũng như cả đại gia đình anh em Lanh Lẹ vui đáo để. Thằng Danh, thằng Lanh suốt ngày khoe về dượng sáu tao làm lớn lắm. Dượng sáu tao có cây súng lục dắt hông thiệt là oai. Bà hai mừng, vì giờ gia đình nông dân mình đã bắt đầu có sợi dây liên kết với cách mạng 30 thiệt là sang. Bà hai đi đâu cũng khoe thằng rể bắc kỳ mà trong lòng vui lắm thay!
Thời ấy đâu đầu thập niên 80 thì phải, cả làng nghèo xơ như mít lép. Đám cưới cô sáu quả thật là chuyện quan trọng đáng xem cho cả làng. Nhà ông hai trước bàn gia tiên dán hai biểu ngữ màu đỏ "Vui duyên mới không quên nhiệm vụ" "Gái chính chuyên chỉ có một chồng". Thiệt là lạ lùng với người làng!?
Thời gian vật đổi sao dời, làng tôi ngày càng bị thuỷ phá nặng nề. Làng vốn nghèo càng nghèo hơn. Đất đai là công cụ sản xuất bị hà bá lấy sạch. Nhà ông hai cũng chẳng nhờ vả chi thằng con rể cách mạng. Ông hai và bà hai lần lượt qua đời mà lòng cứ đao đáo về đám cháu nội đích tôn dỡ người.
Chị Bế chết vì bệnh tim để lại hai đứa con cho nhà chồng chăm sóc. Mợ ba chết sớm vì phiền muộn kéo dài. Thằng Lẹ học hành rất giỏi nhưng ham chơi và buồn nản chuyện gia đình nên bỏ học.
Tết vừa rồi về có ghé thăm cậu ba Thạch. Cậu rất yếu, chỉ ngồi một chỗ. Thằng Lẹ quanh quẩn ở nhà chăm sóc ba nó và lo cơm nước cho mấy anh. Anh Đá rồi cũng nguôi ngoai chuyện chị Nghị, ngày ngày ra ngôi chợ đầu làng làm thuê vác mướn. Tính anh thiệt thà, ra ngoài đó người ta sai vặt  rồi trả cho chút đỉnh công xá. Ngày có khi anh kiếm được cả trăm ngàn, ít đồ ăn người ta cho.
Anh Đá có hiếu lắm, cậu ba  bảo làm có nhiêu đem về đưa hết cho ổng. Sáng chỉ ăn cơm hâm nóng lại rồi đi làm. Trưa nếu ngoài đó người ta cho gì thì không về. Chiều tối chạng vạng anh mới về nhà tắm rửa ăn bữa cơm chiều.
Thằng Lanh suốt ngày lang thang đầu trên xóm dưới đi nhặt chai bao. lội bùn sình để nhặt nhạnh chai nước khoáng trôi sông. Nhặt nhạnh cả ngày nó đến mấy điểm thu mua ve chai bán được chừng 15-20 ngàn đồng ....để đi mua rượu, ít mồi nhắm. Có rượu, có mồi nó mò về mấy cái sạp ngoài chợ ngồi uống rượu một mình, rồi ngủ luôn ngoài đó, không tắm rửa, không về nhà. Thằng Lẹ bảo chỉ khi nào đói quá nó mới mò về nhà để kiếm ăn. Bằng không chẳng bao giờ về nhà. Mỗi lần mình về thăm quê gặp thằng Lanh nó mừng lắm vì xin được tiền mua rượu uống cả tuần!
Cách nay độ một tháng cậu ba rồi cũng qua đời nốt. Thằng Lẹ một mình côi cút cùng đàn anh dỡ người. Nó bảo em cũng thèm kiếm một con vợ, xấu xí cũng được cho đỡ cô quạnh mà có ai thèm đâu anh! Họ nhìn vào dòng dõi khùng nhà em ai cũng ngán và sợ hết trơn. Thôi em ráng sống mà lo cho mấy ông anh. Khổ nỗi, thằng Lẹ sức khoẻ lại kém hơn mấy thằng anh hoang dại mới chết chứ! Người thằng Lẹ mỏng dính như tờ giấy, lại bị ho lao vì trác táng sớm!
Lỡ mà em chết lấy ai chăm sóc đàn anh bệnh tật của mình. Nó bảo xã mỗi tháng cũng có cho đâu được 400 ngàn. Dù gì khoảng tiền này cũng đủ mua gạo xơi trong tháng. Thằng Lanh có ăn gì đâu, uống rượu thay cơm. Thằng Danh như triết gia. Cười đời, ngoác miệng chẳng còn cái răng nào!? Nhớ cái chuyện anh em nhà Lanh Lẹ hút thuốc cũng lỗi bội phần bởi ông nội em. Ông bảo, tụi mày chẳng thằng nào đánh răng, thôi thì hút thuốc cho đỡ thúi mồm!?
-Thiệt là cám ơn an sinh xã hội ở nước ta quả là gấp vạn lần xã hội tư bản. Mình nói thế, thằng Lẹ nó nhìn mình rồi bảo "anh Cu có vẻ cũng điên giống mấy ông anh em rồi đó!" Nói xong nó cười buồn, đưa tay rót ly rượu đối ẩm uống nhạt, cười khang một mình!

Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2014

Đời hát rong.

Xóm mình cũng thuộc xóm vùng ven nghèo kiết xác ở đất Sài Gòn này. Trong xóm có gã Pê đê cũng nghèo kiết xác. Sáng nào mình cũng thấy gã đi bộ ra ngoài đường để ăn sáng. 
Gã vốn đen đũi nhưng thích làm phụ nữ nên lúc nào tóc cũng để dài. Ngực thì phẳng lì như phi trường, phải dùng cái nịt vú hàng tàu để độn lên cho có vẽ nữ tính. Chân to bè, các móng sơn xanh đỏ loè loẹt, mang đôi dép lào loẹt xoẹt. Mặc áo thun hở cổ để khoe tí khe cạn cợt "đàn bà" đáng thương!
Nghề của gã là rài đây mai đó các đám ma, đám cưới nghèo vùng quê để biểu diễn đàn ca, hát xướng nhảy múa mua vui cho các thực khách trai làng sau khi đã nốc rượu say khướt.
Gã bảo ngực Pê đê như em vào mấy chổ này hát ưa bị chửi vì mấy thằng nhậu say mò mẫm hổng thấy vù mớm đàn bà. Mỗi lần đi hát mấy đám này thù lao cũng chẳng là bao.
Gã nói phải chi có tiền, em đi thẩm mỹ viện độn vú cho thiệt to. Pê đê càng hấp dẫn ngoại hình chừng nào đi hát mới có chút đỉnh tiền boa. Bằng không có đêm hát về hai ba giờ sáng không có cả tiền đổ xăng, bụng rỗng chỉ toàn là rượu đế.
Hồi hôm trời mưa to, tầm lúc 20 giờ, hắn ghé tiệm tạp hoá mua áo mưa phương tiện 5 ngàn. Hỏi gã đêm nay em đi hát ở đâu. Gã đáp: Đêm nay em đi hát đám ma ở Bùi Môn Củ Chi.
Mưa to quá thôi ở nhà một đêm với lại xa quá, đi đường nguy hiểm lắm. Gã bảo, mấy đêm rồi có đám nào đâu. Hôm rày không có cả tiền ăn sáng, mua son phần để trang điểm. Nghe thằng bạn kêu đêm nay đi hát, mùng quýnh, phải mượn con xe tàu để đi. Kiếm đồng tiền bây giờ cực khổ lắm.
Khoác lên mình chiếc áo mưa phương tiện, Nàng ngồi lên con xe tàu không quên vén vạt áo dài màu vàng chanh xuống đít ngồi,hì hục đạp máy xe. Chiếc xe gầm lên mất hút vào đêm tối, để lại vệt khói trắng dầy đặc trong màn mưa bụi mờ. 

Nhìn bóng nàng xa dần mà xót xa thân phận con người!

Mưa Sài Gòn.


Quán cóc của chị chiều nào cũng đỏ lửa khắc khoải niềm hy vọng mua may bán đắc. Ngày ngày chị hì hụi đẩy chiếc xe canh bún trên con đường nhày nhụa, lổm chổm ổ gà ổ trâu. 
Mỗi mình chị chiếc xe với thùng nước lèo kẽo kẹt, nặng nhọc chậm chậm một cây số đường mưa-người đàn ba hai con và gã chồng đốn mạt chỉ biết bản thân mình hơn là cái gia đình nhỏ nghèo khó của y. 
Lặn lội một mình ngoài đường phố mưu sinh. Ngày nắng hay ngày mưa, cạnh dốc chân cầu Bến Phân, miếng bạt che mưa, chiếc đèn compact nhỏ xíu, câu nhờ từ nhà dân gần đó. Vài cái ghế con con dành cho thực khách lót dạ đường khuya.
Chị bảo mỗi đêm nếu trời không mưa thì bán được chừng 200 ngàn. Đêm nào trời mưa thì ít hơn. Còn nếu mưa lớn quá thì hẳn là chị ngồi bó gối thu lu chờ khách cho đến tận khuya. Có đêm chị đẩy xe về qua ngõ nhà mình quá 12 giờ!
Sài Gòn hôm nay mưa kéo dài khủng khiếp. Mưa từ tầm 5 giờ cho đến tận giờ này, mưa như trút nước, đường phố biến thành dòng thác tuôn chảy ào ạt. Quán cóc của chị đêm nay không một bóng người. Nồi nước lèo vẫn bốc khói nghi ngút. Miếng bạt quá nhỏ để có thể che chắn cho khách lỡ đường lót dạ đêm khuya. Gặp chỉ đẩy xe về, vừa đi vừa khóc. "Chiều giờ không bán được tô nào chú ơi! Thùng nước lèo ế đêm nay coi như đổ bỏ. Vốn liếng chẳng là bao mà Sài Gòn cứ mưa mãi thế này chắc mấy mẹ con chết đói quá chú à!"
Bóng chị đổ dài trên con đường mưa vàng ệt như bóng thời gian tận cùng khổ đau của xã hội nhầy nhụa bóng thiên đường!

Thằng Què.

"Ví dầu tình bậu muốn thôi. Bậu gieo tiếng dữ để rồi bậu đi. Bậu đi bậu lấy ông câu. Ông câu cá bống để dành bậu ăn. Bậu ăn không hết để dành, để trên áng sách, để đầu áng thơ!". Văng vẳng nhà bên tiếng ru hời câu ca dao nam bộ thuở nào của người mẹ trẻ trong căn nhà lá rách nát tả tơi. Nàng ngồi bất động. Mầm sống đang yên lành ngon giấc. Thi thoảng thằng nhóc chép miệng, nhoẻn cười sau cử bú no nê từ bầu sữa căng tròn của mẹ nó. Hàng xóm quê mình bảo ba nó bận đi tù vì tội giao cấu với trẻ vị thanh niên-má nó. Nên bỏ má nó từ trước khi thằng nhóc chào đời trong bệnh viện. Rồi thằng nhóc sẽ lớn lên. Hẳn nó sẽ cùng với má nó, cùng với cái nghèo muôn kiếp xứ mình lê la cùng năm tháng. Không biết rồi người mẹ son sắc ấy có đi bước nữa để tìm kiếm nửa còn lại mà mình ảo tưởng. Nửa còn lại san sẻ gánh nặng cuộc đời mà em mong ước!? Người mẹ chỉ vừa tròn 17. Cái tuổi còn quá nhỏ để hiểu khó khăn còn rất nhiều phía trước, cùng những cạm bẫy chực chờ và trách nhiệm cho thằng nhóc yên lành khôn lớn!?
Thằng Què, cả ngày ngồi yên lặng bên ngạch cửa nhà ngóng ra đường. Thi thoảng nó nhìn xuống đôi chân teo tóp như hai que củi nhỏ bất động, rồi ngước mắt nhìn bầu trời mây xám đùng đục những ngày mưa mù. Nó yên lặng ngồi chờ đợi ba nó gửi tiền về cho ông bà nội nghèo khó. Nó chờ đợi ba nó về cùng với đứa em lành lặn mà đã nhiều năm nó không gặp. Nó cần tình thương của ba nó hơn là suốt ngày bất động trong ngục tù của ngôi nhà. Nó hiểu nó mồ côi trong chính ngôi nhà mà ông bà nội nghèo khó đã phải buộc lòng cưu mang nó. Trong cái nhà rách bươm này ai cũng muốn nó chết đi. Sự sống mệt nhoài và tật nguyền của nó hẳn là gánh nặng nợ đời hơn là một cái gì khả dĩ nó sẽ đền đáp khi khôn lớn về sau!?
Ông nội nó là gã đàn ông gầy guộc và đen đúa. Nhìn ông nội nó trong làn bụi mờ ở họng thải trấu nhà máy xay lúa, người ta có cảm giác như gã là cây tràm cháy đen gầy guộc đang còn nhả khói.
Tuổi của ông nội nó chỉ áng chừng năm mươi. Nhìn dáng của người đàn ông nghèo hèn, bước đi xiêu vẹo,nhọc nhằn mưu sinh mới thấy con người bất lực và khốn nạn ra sao để có thể tự nuôi sống bản thân mình cho thật đàng hoàng và tử tế, khi vốn sinh ra trong truyền thống nghèo hèn. Cho dẫu cái xã hội mà ông ấy thụ hưởng vốn ưu việt vạn lần!!!
Nghèo đói và bệnh tật luôn là cặp bài trùng. Do làm trong môi trường nhiễm bụi silic-nhà máy xay xát lúa, ông nội nó bị nhiễm bệnh bụi phổi khá nghiêm trọng. Đau đớn và sợ nhất là mỗi khi nghe ông nội thằng Què ho. Mỗi lần ho, tiếng ho đùng đục phát ra từ cái cổ đầy đàm nhớt đặc quẹo, kéo dài kỳ lạ. Khi ho, ổng ngồi co quắp. Dường như tất cả các cơ trong tấm thân thần chết của ông được vận dụng để tiếp sức cùng với cơn ho tàn nhẫn.
Công việc hàng ngày của ông nội nó là lấy chiếc ghe cùng với bà nội nó đến các nhà máy xay xát trong vùng để thu mua mớ bã trấu vụn lẫn cám và tấm về sàng sẩy lọc ra chút tấm, cám để bán cho mấy nhà nông nghèo khó trong vùng nuôi heo, gà vịt,...cải thiện thu nhập ngoài chuyện đồng áng, làm thuê quanh quẩn trong vùng!
Chiều về ghe cặp bến. Ông nội nó khó nhọc vác từng bao trấu lên bờ để bà nội bắt đầu công việc sàng sẩy. Thằng Què quá ốm yếu nên chả giúp gì được, thành ra lại là cái gai trong con mắt bà nội hồi xuân đĩ thoả và ông nội bắng nhắng vì nghèo khó và bệnh tật. 
Mỗi ghe trấu đầy khoảng độ hai chục bao trấu to. Cứ vác xong một bao ông nội nó phải ngồi nghỉ 5-10 phút để thở và...ho! Mỗi lần nhìn cái xác quắt queo ho đứ đừ. Bà nội nó chỉ nhìn vô cảm và thở dài ngao ngán. Ả thi thoảng liếc vào màn hình chiếc điện thoại đầy tin nhắn sặc mùi tình dục của gã người tình nào đó!? Mặc xác lão đang hục hặc ho, ả chỉ mãi chăm chú nhắn tin cho người tình!
Bà nội nó kém ông nội nó vài tuổi. Cặp vú to đùng, đầy đặn ẩn đằng sau chiếc áo bà ba kín cổ. Dáng người tròn lẳng lơ, phốp pháp. Cái tuổi hồi xuân đàn bà cạnh gã chồng gầy đét hẳn chả còn chút hứng thú dục tình. Tìm thú vui nhục dục âu cũng là bản năng sống tự do duy nhất mà con người còn có cơ may sở hữu ở xã hội điên khùng này!
Quần quật cả ngày, thu nhập của ông bà nội nó chỉ độ 100 ngàn. Tất tần tật khoản thu nhập nghèo khó đó cộng với sàng sẩy mớ gạo vỡ hạt to để nấu cơm. Thằng Què quanh năm suốt tháng chỉ ăn thứ cơm đó. Nhà thằng Què cạnh cái quán tạp hoá có gã chủ kiệm lời, bủn xỉn. Sáng sáng người ta thấy thằng Què ngồi nhìn sang cái quán. Trong ánh nhìn phiền muộn vì mồ côi, vì thiếu tình thương và cả vì thèm khát mớ bánh treo lủng lẳng trêu ngươi thằng Què.
Nhìn chán tiệm tạp hoá và mớ bánh kẹo thèm khát. Thằng Què ngó ra đường nhìn lũ trẻ hàng xóm vui đùa ngoài hẻm, nhìn lũ trẻ đến trường. Nó cũng thèm được đến trường, thèm được vui chơi như chúng bạn cùng lứa. Chẳng đứa nào muốn kết bạn với nó. Cô đơn ngày nối tiếp ngày với nó như là thứ định mệnh tàn nhẫn gắn liền với số phận Thằng Què.
Dạo gần đây mấy nhà máy xay lúa trong vùng lắp đặt thiết bị xay ngày càng hiện đại hơn nên cái công việc mót tấm cám của hai ông bà nội nó ngày càng què quặt hơn vì  có rất ít tấm còn sót lại. Nhiều khi cả ngày sàng sẩy bụi bặm mà cũng chỉ kiếm dăm chục ngàn. Ít việc, bà nội nó thường xuyên vằng nhà hơn. Ông nội nó phần túng thiếu, phần bất lực với bà vợ hồi xuân nên thằng Què trở thành đề tài chính cho sự chì chiết và đánh đập của ông nội nó và cả bà nội nó sau khi đĩ thoả trở về nghe tiếng bóng gió của lão chồng bệnh hoạn. Ba mình bảo ngày nào cũng nghe tiếng thằng Què khóc tức tưởi vì bị đánh đập. Thoạt đầu chỉ nghe thấy tiếng khóc nức nở và tủi hờn.
Con giun xéo mãi cũng quằng. Hôm rồi về thăm quê mình nghe tiếng thằng Què vừa khóc vừa chửi lại ông bà nội nó. Vừa bất ngờ, vừa xót xa cho cái tuổi còn bé xíu. Chỉ mới khoảng 7 tuổi, thằng Què đã biết sử dụng lại chính ngay cái ngôn ngữ thù hằn mà ông bà nội đã phang cho nó để đáp trả. Càng đánh nó càng chủi tợn, bởi nó không thể bỏ chạy mà chỉ ngồi một chỗ chịu đòn roi. Ông bà nội bực mình vì đã nhiều năm ba nó không còn gửi tiền về nuôi thằng Què bất hạnh. Nhìn thằng Què lê lết mà chẳng đỡ đần gì lại còn ăn hại. Khi không lại phải cưu mang của nợ nên mọi bực dọc đều trút lên cả thằng Què đáng thương! 
- ĐM mày là thứ ăn hại, sống chỉ chật đất. ĐM tiền của đâu nuôi cái thứ báo cô như mày!? Tiếng bà nội nó ong ỏng sủa. Thằng què đáp lại:
- Mai mốt này ba tao về, ba tao có nhiều tiền, ba tao sẽ đem tao theo. Tao chả thèm ở chỗ này nữa.
-Mày ở đó mà hy vọng cái thằng cha chết đường, chết chợ của mày. Nó bỏ mày như bỏ con chó ghẻ. Rồi thì tiếng thằng Què khóc vì tủi hờn. Trong lòng nó dẫu vẫn còn chút hy vọng rằng ngày nào đó ba nó sẽ về, sẽ mang nó theo cùng. Rồi thì nó sẽ được yêu thương, được đi học, được ăn cái kẹo nhà hàng xóm bủn xỉn kia bởi vì ba nó có thật nhiều tiền mua cho nó. Dường như cứ sau mỗi lần roi vọt, tiếng khóc vì tuyệt vọng ngày càng dài hơn. Có lẽ nó nghĩ "Không biết liệu ba nó có còn về đón nó không?"
Cách nhà thằng Què ba căn, ba năm trước đây cũng có thằng què cùng hoàn cảnh vì sốt bại liệt như nó nhảy sông tự vẫn. Ông già mình bảo thằng què con bà tư Chè chết vì bị bà tư chửi suốt ngày nên thằng nhỏ uất ức tự vẫn. Nửa đêm thằng què ra con sông trước nhà nhảy xuống. Sáng hôm sau người ta thấy xác thằng nhỏ tấp vào chân cầu. Bà tư Chè nhìn tướng sát phu hại tử, bẳng nhẳng vì nghèo khó. Suốt ngày lê la khắp các khu vườn bỏ hoang trong làng mình để hái rau, nhặt củi, hái trái cây. Nhà bà còn đứa con gái tên cô Xôi, không chồng người quắc như cành củi khô. Trước đây người ta còn thuê mướn làm gạch, giờ chả ai thuê mướn gì cả vì Xôi không còn sức khoẻ. Nghe đâu xã có trợ cấp cho gia đình bà tư Chè mỗi tháng 200 ngàn tiền minh tệ. 
Nhìn hoàn cảnh thằng Què mà nhớ chuyện thằng què bất hạnh trước đây, sao lo quá! Bước đường cùng tuyệt vọng có khi nào thằng Què rồi cũng làm cái chuyện dại dốt như thằng què năm xưa con bà tư Chè đã chọn!?
Một cánh tay nào vươn ra níu đời nó. Một cơ may nào cho thằng Què qua kiếp người bớt nhọc nhằn. Một ngày mai nào thằng Què thấy sự sống mới đẹp đẽ làm sao? Hay là cứ ngu muội cùng kiên định bóng thiên đường nhầy nhụa cuối cuộc đời!? Nơi lần lượt kẻ trước người sau về trong cõi chết khôn cùng! Nơi thời gian dừng lại, khổ đau, nghèo giàu, lành lặn hay tật bệnh,...chả còn ý nghĩa gì nữa, bởi tất cả chúng ta đều bình đẳng!
Què ơi! tụi mình không thể trông mong gì người lớn xây dựng một xã hội công bình bác ái cho mọi người. Nếu có chắc hết thế kỷ này? Thay vì vậy, tụi mình chờ đợi cái chết? Tao cũng biết, kiếp làm người của mày có phần khốn nạn hơn tao nhưng liệu tao không khổ đau kém mày?
Tiếng ru hời nào sẽ theo em đi đến cuối con đường!? Nơi tuổi thơ ngắn ngủi trôi qua trong yên lành của ngày xưa! 
Sài Gòn nửa đêm về sáng.


Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2014

"Đứa con hoang đã trở về nhà!?"



Hiểu và tôn trọng những giá trị chân thật của lịch sử là điều hết sức cần thiết cho từng cá nhân, cho mỗi dân tộc và cho bất kỳ lãnh đạo quốc gia nào! Hiểu lịch sử và tôn trọng tính chân thật của lịch sử như là xem lịch sử như một tấm gương phản chiếu chân dung, hình diện của mình để mà có những bước đi kế tiếp, hay sửa mình cho phù hợp với diện mạo mới cần thiết cho một thời đại mới cũng như một nơi chốn mới mà trong đó chúng ta hiện diện. Quên lịch sử, xem thường lịch sử, chối bỏ chân diện mục của lịch sử, vẽ viết lại lịch sử theo ý đồ của mình,...giống như thay vì xem gương sửa tướng, chỉnh lại diện mạo, nhìn thấy mình trong đó thì đập gương đi vậy. Thậm nguy hơn nữa là xem lịch sử như một công cụ tuyên truyền, ca ngợi, tôn vinh mình lên chín tầng mây xanh, lúc đó lịch sử chẳng còn có ý nghĩa hay bất kỳ giá trị tư tưởng nào nữa mà lịch sử đã trở thành thứ thuốc phiện tự mình đầu độc mình dài lâu và đầu độc dân chúng chỉ trong một thời khắc nhất định! Bởi thứ thuốc phiện được bào chế từ những nhà giả kim thuật tư tưởng ấy chỉ phê về hình tướng và ngôn ngữ mà chẳng có chút giá trị thực chất nào cả!
Lịch sử xã hội loài người cho thấy chả có chế độ, đảng phái nào mà chẳng có sai lầm. Có những sai lầm dẫn đến mất nước, dẫn đến đời sống dân chúng điêu linh tàn tạ. Có chế độ tồn tại trên bạo quyền, có chế độ tồn tại trên công bằng bác ái. Có chế độ xây dựng trên nền tảng dối trá, bằng máu của đồng loại, bằng những trợ lực từ bên ngoài,...Tuy nhiên tất cả những cái thuộc về lịch sử đó được ghi lại và lưu truyền bằng văn bản chính thức hoặc phi chính thức nhưng nó vẫn thuộc về lịch sử. Cho dù chế độ hiện tiền có cố tình che giấu hay bưng bít thì nó vẫn sống và thậm chí còn sống mạnh mẽ hơn cả vạn lần thứ sử chính thống dối trá dược lưu truyền qua sách vở.
Nhà nước này, Đảng phái này-đang thống trị dân ta hiện đang tồn tại trên nền tảng dối trá cùng với thứ lý luận thiếu cơ cở thực tiễn. Nhưng chẳng hề chi, bởi để đảm bảo cho điều tồi tệ tồn  tại và sống tàn ác kéo dài thì họ có cái gọi là công cụ chuyên chính vô sản. Thực tế đấy là công cụ bạo lực. Thứ công cụ phi nhân tính, bất chấp đạo lý, bất chấp lẽ công bình bác ái. Bất chấp quyền con người, bất chấp mọi thứ mà họ đã cam kết để ngõ hầu đè bẹp bất kỳ ai, bất kỳ tổ chức nào lên tiếng chỉ trích chúng.
Sự thật luôn như là ánh mặt trời. Có bàn tay nào đủ lớn để che bầu trời soi sáng ánh mai vào mọi ngóc ngách của sự sống? Dưới ánh sáng Sự thật rồi sẽ phơi bày ra mọi thứ. Sự thật luôn là thứ chân lý bất khả tư nghì, rồi sẽ cho chúng ta thấy ẩn đằng sau cái gọi là sư thật mà Đảng phái này, nhà nước này vẽ ra còn có đất sống?
Đảng đã làm mọi cách để tiến hành cái gọi là cuộc cách mạng chiến tranh giải phóng dân tộc từ hai bàn tay trắng. Đảng thừa hiểu với vốn liếng bằng không ấy thì buôn chính trị chỉ là trò chơi không tưởng! May thay cái thời kỳ nghiệt súc ấy Đảng đã và đang có người bạn đồng hành chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội đang như phong trào thời thượng của thuở ấy! Cơ hội ngàn vàng là đây. Nắm bắt cơ hội ấy đã cho đảng cái vận hội thống lĩnh thiên hạ và bắt đầu hành trình trượt dài trong lừa dối. Tiếc thay chẳng có sự viện trợ giúp đỡ nào trên tinh thần quốc tế vô sản vô tư lợi cả. Chỉ có cái nghĩ của Đảng là ngây thơ và vô tư sai lầm dẫn đến một tương lai đất nước một lần nữa lệ thuộc ngàn năm!?
Có thể Đảng phủ nhận hoàn toàn thứ lịch sử tồi tệ mà do chính mình tạo ra đó, hoặc vả là không thấy cái mình đã và đang phạm sai lầm dẫn đất nước đến một tương lai đổ nát và đen tối ngày hôm nay!? Không sao, âu đó cũng là lẽ thường tình! Đảng chung qui chỉ là nhóm nhỏ những con người có một trí năng giới hạn. Thời đại ấy với tầm nhìn ấy của những anh nông dân mắt toét là lẽ đương nhiên! Cái mà Đảng không thấy đã có dân chúng thấy. cái mà Đảng ngỡ là quang vinh thì dân chúng thấy nó nhục nhã. Cái mà Đảng nghĩ nó muôn năm thì dân chúng nhìn thấy trong đó cái chết thật gần. Đảng hữu hảo với kẻ tà tâm dân chúng biết và có nhiệm vụ khuyên bảo và dạy Đảng, chỉ rõ cho Đảng thấy dã tâm của nó. Con đường đi lên CNXH của đảng đang dần dẫn dắt dân chúng cùng xuống hố cả nút. Xuống vì tham nhũng, vì thiếu sự đoàn kết quốc gia, vì những nhóm lợi ích chia nhau xâu xé đất nước này. Những người dân thực sự làm chủ đất nước này sẽ có nhiệm vụ ngăn chặn hành vì đó. Đảng vẫn im lặng khi quyền sở hữu đất đai bị xâm phạm bởi kẻ cướp láng giềng. Dân chúng sẽ đứng lên thay mặt Đảng làm việc đó. Có thể trong một thời khắc nào đó Đảng bảo dân chúng hãy yên tâm để Đảng làm chuyện ấy! À thì để chờ xem trong ngắn hạn vậy!? Nhưng đừng tưởng dân tôi im lặng để Đảng đem sổ đỏ, sổ hồng cầm cố vì canh bạc chính trị mà chúng bay đã thua trắng tay nhé! Dân chúng thừa hiểu Đảng đã dại dột vay nặng lãi của ai rồi!
Dân chúng là cha mẹ của Đảng. Dân chúng đẻ ra Đảng. Và lẽ dĩ nhiên cha mẹ sẽ thấy đứa con ngốc nghếc, hiếu thắng ấy rồi sẽ có những sai lầm ngớ ngẩn. Phận làm cha mẹ sẽ có trách nhiệm dạy dỗ con cái. Dĩ nhiên trong dạy dỗ có khi bằng lời nói, có khi bằng roi vọt. Kỳ lạ thay mỗi khi tía má nói thì chúng bay bảo tụi tao lợi dụng quyền làm cha mẹ vi phạm việc dạy dỗ con cái!? Bắt chúng tao im lặng để tụi bay muốn làm gì thì làm sao? Không phải thế đâu thằng con Đảng nhà họ Cao à! Chúng tao thực sự làm chủ cái nhà này. Mày chỉ là kẻ đại diện cha mẹ mi để quản lý, làm ăn này nọ. Nay hỏi chủ quyền nhà đất đâu thì im lặng khó hiểu. Nhờ vụ thiếu nợ dai mà thằng cầm đồ qua siết đồ mới lòi ra chuyện mày đem cấm tất mọi thứ vào đó! Hỏi vì sao cấm không hỏi ý tía má thì cả đám im lặng khó hiểu! Nhà đất này là của chúng tao, mày không giải thích được vì sao đem cầm cố thế chấp thì chúng tao sẽ phải đòi lại quyền quản lý, giao cho thằng con khác làm ăn giỏi hơn quản lý! Hẳn lúc ấy sẽ có roi vọt nếu mày vẫn ngoan cố cứng đầu!
Hãy dũng cảm quay về với cha mẹ, thú nhận những sai lầm đã phạm phải trong quá khứ nào là hội nghị Thành Đô, Công Hàm Phạm Văn Đồng,..Cha mẹ rồi sẽ tha thứ cho các con thôi. Căn nhà này còn rộng chỗ cho đứa con hoang đàng sau bao năm tháng ngập chìm trong tội lỗi trở về trong vòng tay yêu thương để mà chiêm nghiệm những tội lỗi sai lầm trong quá khứ mà sửa mình! Đừng vì chút lợi lộc nhỏ làm đứa con hoang vô thừa nhận nơi tiệm cầm đồ nghiệt súc, đánh đổi cả một đời chìm đắm trong nhục nhã con nhé!
Làm thế rồi gia phả nhà ta lại phải thêm một trang ghi chú: dòng họ này đã từng có đứa con bán đứng cha mẹ mình mang tên Đảng cộng Sản mà làm nhục cả tông ti họ hàng con à!

Làm bạn với tất cả!?



Aristote nhà hiền triết Hy Lạp sinh ra tại Stariga thuộc tiểu quốc Macédonine cách Athene 200 trăm dặm, vào năm 384 trước TL. Ông là môn đệ của nhà hiền triết nổi tiếng Platon cha đẻ của hai tác phẩm vĩ đại Nền cộng hoà và xã hội lý tưởng-Utopia. Những tư tưởng về triết học của Aristote có cái vẫn còn nguyên giá trị đến ngày hôm nay. Dù một số nhận định của ông về việc bình đẳng giữa đàn ông và đàn bà là không thể chấp nhận được. Bởi ông cho rằng đàn bà là con người chưa trưởng thành? Và vì vậy đàn ông phải là kẻ chỉ huy và định đoạt số phận của họ!? Ngoài ra một số nhận định của ông về thương mãi khá buồn cười như cho rằng các hoạt động tài chính là những việc không xứng đáng với một công dân theo hình mẫu con người lý tưởng của Aristote.
Theo Aristote con người lý tưởng là con người không làm những việc nguy hiễm một cách vô ích. Nhưng gặp trường hợp con người lý tưởng cần phải hy sinh tánh mạng vì có nhiều lúc đời sống thật không còn đáng sống ví dụ như chiến đấu bảo vệ tổ quốc trước hoạ xăm lăng mà những cá nhân bị mất nước sẽ trở thành nô lệ hoặc im lặng cuối đầu trước bạo quyền kéo dài chỉ cốt để nuôi sống phần con dã thú chẳng hạn!?
Người lý tưởng phải là kẻ sẵn lòng giúp đỡ kẻ khác nhưng nhận sự giúp đỡ một cách dè dặt. Họ không tìm cách phô trương, họ thẳng thắn nói lên điều ưa và ghét, hành động một cách chân thật.
Không khen ai quá đáng, không thể a dua với kẻ khác vì tánh a dua là đặc tính của kẻ nô lệ. Họ không bao giờ muốn làm hại ai và sẵn sàng tha thứ những lỗi lầm của kẻ khác. Không nói nhiều, không tâng bốc người khác và không muốn được tâng bốc hoặc chỉ trích người khác. Không nói xấu người khác dù đó là kẻ thù của họ. Chịu đựng sự bất trắc ở đời một cách vui vẻ. Họ thích sống một mình và không sợ cô đơn.
Về khoa học chính trị của Aristote cũng đáng chú ý, ông thường chỉ trích chế độ cộng sản kiểu Platon. đây là hình thái cộng sản mà Mác đã có công copy về cho các môn đệ  dọn mình kiên định một thời gian dài phá nát xã hội loài người!?
Ông cũng bảo vệ các chỉ trích sai lầm về chế độ tư sản, bởi họ cho đó là nguyên nhân gây ra các tệ đoan xã hội. Theo ông sự thật về nguyên do các tệ đoan xã hội ấy không phải là do xã hội tư sản mà là ở nguyên do bản tánh con người. Theo ông khoa học chính trị  KHÔNG ĐỦ SỨC ĐỂ LÀM NÊN NHỮNG CON NGƯỜI MỚI MÀ PHẢI QUAN TÂM ĐẾN ĐẶC TÍNH HIỆN HỮU CỦA CON NGƯỜI.  Nói một cách tổng quát, con người gần con thú hơn là gần các thiên thần. Phần đông đều u mê và lười biếng, dù ở trong chế độ nào-ở đây phải hiểu chế độ lành mạnh-đi nữa những người ấy cũng nằm vào hạng chót. Chủ trương giúp đỡ họ không khác gì chủ trương đỗ nước vào chiếc thùng vỡ.
Trong chương bàn về đạo đức học và bản chất của hạnh phúc Aristote cũng đưa ra khái niệm về thuyết trung dung và câu nói nổi tiếng của ông "một con én không  làm nên một mùa xuân" Ý  nghĩa câu nói này bàn về tính thánh thiện. Tức sự thánh thiện chỉ có được qua tập luyện. Theo ông Hạnh Phúc là sự khoái lạc của tâm hồn. Một yếu tố cần thiết khác cho hạnh phúc đó là sự kết bạn. Càng được san sẻ, hạnh phúc càng tăng trưởng. Khái niệm về công bằng không quan trọng trong tình bằng hữu, khi đã là bạn người ta không nghĩ đến công bằng, so đo trong giao thiệp. Mặt khác số bạn chân thật không thể có quá nhiều; kẻ nào có quá nhiều bạn thật ra không có bạn nào cả. Làm bạn với tất cả mọi người là điều không thể thực hiện được. Tình bạn chân thật phải được thử thách qua thời gian, nó đòi hỏi sự ổn định trong tánh tình. Một khi tánh tình không ổn định, thì sự kết bạn lẽ cố nhiên cũng bị ảnh hưởng. Bình đẳng là yếu tố cần thiết trong sự giao thiệp, sự biết ơn không làm cho sự giao thiệp được lâu dài. Kẻ thi ơn luôn luôn muốn người thọ ơn mình mãi mãi, trong khi kẻ chịu ơn luôn luôn muốn xa lánh kẻ thi ơn càng sớm càng tốt.
Trên đây là một số khái niệm cơ bản trong triết học Aristote mà khi đọc quá thấy có nhiều điều ứng hợp với xã hội mà chúng ta đang sống! Có điều thay vì ứng hợp theo chiều hướng tích cực của Aristote thì lại đi ngược lại tư tưởng triết học của ông.
Từ việc chủ trương Đảng ta làm bạn với khắp năm châu bốn bể. Ai ai cũng có thể nâng tầm lên quan hệ chiến lược toàn diện. Để rồi khi đứng trước nguy cơ nước mất nhà tan thì chả thấy đâu những người bạn Đảng ta khen nức khen nở!? Bạn toàn là những đấng mày râu đáng sợ . Nào là Cuba thức ngủ, Hugo, rồi đến Gorilla Mugabe tận Zimbawue xa xôi,...Đau nhất trong nỗi đau quan hệ bạn bè là cố tình nhắm mắt làm ngơ bỏ qua thử thách bạn bè, bỏ qua kinh nghiệm thương đau quá khứ để rước về một thằng bạn có tánh tình nham hiểu. Chơi với nó để rồi cả đời nó chỉ muốn Đảng ta phải thọ ơn mãi mãi. Mọi động thái rục rịch của Đảng ta thì bị nó bảo là kẻ vô ơn, ăn cháo đái bát sợ co rúm người lại. Có ý muốn rời xa nó thì bị nó hăm he dạy dỗ bằng bài học bạo lực. Quan hệ bạn bè chi mà nó như kẻ bề trên, chẳng chút bình đẳng. Rồi một ngày nó lộ mặt-mày chỉ đáng đứa con hoang nhà tao!
Chê trách tư bản chủ nghĩa để rồi phát triển chủ nghĩa tư bản định hướng XHCN. Làm cách chi mà sao bao năm vẫn cứ loay hoay trong tuyệt vọng. Ứng dụng khọc học chính trị để xây dựng những con người mới xã hội chủ nghĩa bằng các hình thức khuôn mẫu như vận động toàn thể Đảng viên, viên chức trong bộ máy đảng và nhà nước thi đua học tập tư tưởng HCM. Kết quả cuối cùng là một đám vô lại thích hưởng thụ, u mê, lười biếng trở thành tầng lớp ưu tú trong xã hội bệnh hoạn leo cao, đè đầu cỡi cổ dân chúng để hút máu làm giàu!
Xây dựng những con người mới xã hội chủ nghĩa chỉ là đám a dua, thành công cụ đắc lực của Đảng như báo chí cách mạng, dư luận viên, công an, quân đội... Công việc của họ chỉ là a dùa, hùa theo chửi bới những người có tâm với đất nước như hù doạ giết, chửi mắng bằng thứ ngôn ngữ dung tục đường phố,..Nước nhà lâm nguy thay vì đầu sóng ngọn gió thì lại đẩy ngư dân ra đối đầu.
Xây dựng con người lý tưởng phải là con người biết yêu nước đúng đắn, biết yêu chế độ XHCN, yêu tổ quốc Việt Nam Xã Hội chủ nghĩa. Ca tụng, thần thánh hoá lãnh tụ. Cho dù tình yêu đó không nền trên cơ sở rung động của trái tim. Xã hội chỉ thuần những con người ru rú theo lối sống bày đàn, làm theo tập quán chung của lợi ích từng nhóm nhỏ thay vì những cá nhân biết cô đơn và không sợ hãi sự cô đơn!
Buồn thay một xã hội chẳng dựa trên một thứ minh triết nào ngoài mớ vụn vặt tư tưởng chưa minh chứng qua thực tiễn mà chỉ nền trên cái ảo tưởng phù phiếm. Xã hội ấy hà tất có thịnh vượng của thứ thịnh vượng đói nghèo, chia rẽ, hận thù tích tụ triền miên tận! Hình ảnh tương lai của xã hội đó là bóng chiều bên kia thế giới tàn phai, là bóng ma của những linh hồn oan ức trong buổi chiêu hồn thập loại chúng sinh vào ngày thu mưa sụt sùi! 

Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2014

Tễu Việt: XEM LẠI TẬP TRANH: MƯU SÂU HỌA CÀNG SÂU

Thời xưa gan dạ anh tài
Thời nay sao nhũn như loài chi chi.
Tễu Việt: XEM LẠI TẬP TRANH: MƯU SÂU HỌA CÀNG SÂU: Mưu sâu họa càng sâu! Lời dẫn của Du Tử Thành:   Hôm qua trên đường lang thang, tình cờ mình kiếm được tập tranh biếm họa "Mưu sâu họ...

Ròm xem tin tức --bài viết ... - Lầu 1: Khi tàu+ trở mặt thì hồ chí minh bị lật mặt nạ với...

Ròm xem tin tức --bài viết ... - Lầu 1: Khi tàu+ trở mặt thì hồ chí minh bị lật mặt nạ với...: CHINA NEWS - "Ma Quỷ" HO CHI MINH CÓ VỢ LÀ TĂNG TUYẾT MINH - Evil Ho Chi Minh Once married to Tang Tuyet Minh! Lưu ý b...

Tiệm chạp phô ông "Chệt" đầu làng.

Hồi ba mươi tháng tư năm 1975, cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn vào hồi chung cuộc tạm thời. Những người anh em miền bắc hân hoan tràn vào phố thị. Hàng loạt các cuộc chơi mới bắt đầu. Ông già đi cải tạo tư tưởng. Hàng ngày có chú bộ đội đến nhắn bảo với mẹ-thôi chị liệu mà tính đường trả nhà, về quê sinh sống. Chừng nào chồng chị cải tạo tốt trở về đấy cày cuốc, lao động cho nó vinh quang. Nhà cửa của cách mạng thì trả lại cho cách mạng quản lý!
Mẹ gắt: "mấy ông đuổi tui ra khỏi nhà thời điểm này, lấy chỗ đâu tá túc, rồi làm gì kiếm sống, con cái nhỏ nhít cả lũ. Thằng lớn nhất chỉ mới 10 tuổi. Gì thì cũng phải đợi chồng tôi ra tù chứ!?" 
Ngày ba cải tạo tư tưởng trở về. Cũng là lúc chú ấy đến thường xuyên, hù doạ đủ kiểu. Ba mẹ thấy bất ổn nên đành lòng ký giấy trả nhà, thu dọn đồ đạc về quê ngoại ở Sa Đéc.
Ngày ấy ông ngoại có cái nhà to đùng ở số 1 Trần Phú hiện giờ. Cái nhà ấy, nay thì mấy người con của mợ hai ở. Ngoài ngôi nhà này ông ngoại còn để lại một mảnh vườn cây trái ở làng Tân Hiệp. Ba hết thời làm thầy giáo, đành về miếng vườn vỡ đất khai hoang. Hồi mới về đây mình thích lắm. Con nít biết quái gì thời cuộc. Về quê thấy cá nhiều. Tối ngày chỉ biết lang thang ngoài đồng để bắt cua ốc. Học hành cũng chả thèm quan tâm. Thích sông nước. thích bắn chim, cắm câu, săn chuột,...cuộc sống đối với mình thời đó quả là thiên đường!? 
Lúc mới về làng Tân Hiệp, muốn qua làng phải đi qua một con đò. Ơn trời nhờ có cách mạng mà làng mình mấy mươi năm nay vẫn còn đi đò ngang thơ mộng! Hồi xưa dân trong làng gọi đò này là đò Xẻo Vạt-bến Tân Bình, đò An Tịch bến làng An Tịch. Từ Quốc lộ 80, qua đò thì làng đầu tiên mà thằng nhóc như mình mục sở thị là làng An Tịch. Ngay đầu làng An Tịch là trường tiểu học An Tịch. Ngôi trường nhỏ xíu mà sau mấy mươi năm lăn lộn trở về nó vẫn còn nguyên hình nguyên dáng thuở nào. Trường ấy, nay được đổi thành trường An Hiệp 1. 
Cạnh trường có tiệm chạp phô của ông lão già người Hoa. Theo một số nghiên cứu xưa, mấy tiệm tạp hoá này được gọi là điếm, nhưng do người việt đọc trại thành ra tiệm?
Hồi  nhỏ khoái nhất là được bà già sai đi ra tiệm ông Tàu mua đồ. Con nít thời ấy, bước chân vào mấy tiệm này chỉ có mà mê đến chết vì thèm thuồng. Tiệm chạp phô ông tàu già bán đủ thứ trên trời dưới đất. Thứ gì dân quê cần thì trong tiệm ông tàu điều có.Từ cây kim, sợi chỉ, tim đèn huê kỳ, dầu lửa, đá lửa, hột quẹt lửa, nước mắm tĩnh, thuốc trị đau bụng, tiêu chảy, nhức răng,.....chi chi ông tàu điều bán tất. Hồi ấy dân trong làng ai ai cũng nghèo. Việc mua đồ tiêu dùng tủn mủn chỉ cần ra tiệm chạp phô ông Tàu Già. Đem hôm khuya khoắt, trong nhà lỡ có cớ sự gì xách đèn bão, gõ cửa tiệm chạp phô ông tàu già đều vui vẻ mở cửa tiệm. Gặp tình cảnh thắt ngặt ông cũng cho thiếu. Nhiều người nghèo quá không tiền trả ổng cũng ngó lơ chả thèm đòi.
Dân quê thiệt tình không có tiền trả nên mỗi lần có việc phải đi ngang nhà ổng, nón lá đội xùm xụp, rảo bước thiệt nhanh. Đôi khi bị ổng phát hiện gọi vào bảo " Nị có tiền thì trả cho ngộ, không có thì thôi. Nếu cần gì nị cứ ra đây, ngộ pán choa!" Dân trong làng, thi thoảng cần sắm sửa lớn mới đi đò dọc hoặc đi bộ ra chợ tỉnh ngoài Sa Đéc! 
Ông Tàu già có người con gái duy nhất. Sau này ông mất đi, bà nối nghiệp cha tiếp tục duy trì tiệm cũ. Bà Tàu sau này cũng có đứa con gái cỡ tuổi mình, xinh ra phết! Nghe đâu tiệm của ông tàu già đóng cửa hồi thập niên 90. Mấy chục năm nay bỏ làng đi kiếm sống nên cũng chả biết đứa cháu ngoại gái xinh xắn ngày xưa của ổng giờ ở nơi đâu! Hông biết hồi nhỏ khoái đi tiệm ổng có phải vì cô cháu gái nhỏ!? Thiệt tình buồn.
Ấn tượng con nít của mình thời đó là mấy hủ xí mụi, kẹo me, đường phèn, mấy viện đạn culi,... Thường thì bà già sai đi mua dầu hoả, tim đèn, muối mắm linh tinh. Tiền đưa cho con nít mua đồ cũng đã được đong đo cân đếm cẩn thận. Bởi thế mua đủ theo cái "shopping list" thì cũng nhẵn túi. Nuốt nước bọt đánh ực chào ông Tàu ra về sau khi đã mua xong hàng là chuyện thường tình. Hôm nào mua khá khá đồ trong tiệm của ổng, ổng mở hủ xí muội móc cho một cục. Mừng lắm, bỏ vào mồm mà chỉ dám ngậm nhè nhẹ cho nó....lâu tan. 
Ngoài bán tạp hoá, ông Tàu Già còn kê mấy bàn banh  làm chỗ chơi cho con nít trường An Tịch cạnh bên.
Mỗi lần mua đồ của ông Tàu già mình thích nhìn cái máy tính cỗ của ổng. Cái máy tính đen thui, lên nước đen bóng nhẫy, nhất là mấy con tính bằng gỗ. Mỗi lần làm phép cộng nhân trừ gì đó. Ông Tàu già búng ngón tay mấy hạt gỗ đen lách cách, giòn tang. Mình phục ổng lắm!
Người trong làng ai cũng quen thuộc tiệm chạp phô của ông. Không ai trong làng có ác ý gì việc ông bán đồ mắc rẻ ra sao. Hồi đó không có khái niệm đồ giả. Muốn thứ gì cứ ra nói và lấy về xài. Mẹ mình nói chổ tiệm ông già Tàu bán cũng không đắc gì mấy so với tiệm lớn ở chợ tỉnh. Có điều là mua bao nhiêu ổng cũng bán. Có tiền ít mua ít, tiền nhiều mua nhiều!
Đận trước "giải phóng", khắp nam kỳ lục tỉnh hầu như làng nào cũng có một vài tiệm chạp phô của người Hoa. Sau này người Kinh học hỏi cách thức buôn bán của họ nên dần dà thay thế vai trò đó! Giờ đố tìm đâu ra bất kỳ làng xã nào còn cái tiệm chạp phô người Hoa thuở nào!!!???
Ngày nay hình thức buôn bán này được duy trì và phát huy mạnh trở lại. Đặc biệt là ở các vùng dân tộc ít người. Duy chỉ có điều khác biệt là các điếm này do người Kinh làm chủ. Họ cũng bán đủ thứ trên trời dưới đất, đồ thật, đồ giả đủ thứ lung tung. Thậm chí họ bổ hàng của các cơ sản sản xuất bất lương, hàng kém chất lượng rồi đem về bán cho các vùng dân tộc nghèo nghèo với giá đắc, lừa đảo. Việc buôn bán, trao đổi có thể là tiền mặt, bán chịu, hoặc hàng đổi hàng,...từ bán rượu đế đểu( rượu vừa đi vừa nấu), đồ gian, đồ giả, mua một bán mười.
Thời ở Đà lạt, đi vào trong vùng người dân tộc, mình lang thang các điếm này thấy họ bán khô cho người cho Kơ Hor ăn chẳng khác gì cá khô làm thức ăn gia súc. Khô thì mặn chát, thịt cá mũn như bột. Rượu đế không biết nấu bằng cách chi. Uống vào say như thằng chết, nhức đầu cả ngày hôm sau chả hết. Gạo thì cũ, mốc meo. Giá cả thì bán trên trời.
Báo chí cũng đã từng đăng một vụ lùm xùm của một nhóm người Kinh nào đó lợi dụng các chương trình đền bù tái định cư dự án thuỷ điện của người dân tộc. Họ lên đây dụ dỗ cho vay nặng lại, bán trả chậm các phương tiện nghe nhìn, xe máy, hàng tiêu dùng,.. với giá cắt cổ. Khi người dân nhận tiền đền bù thì họ bắt đầu xiết nợ. Có người thậm chí vừa ôm tiền ra khỏi ngân hàng là họ nhào tới giật. Sự việc nghiêm trọng đến nỗi công an phải áp tải họ về nhà để tránh mấy tay người kinh lưu manh thu hết tiền! 
Ngẫm câu chuyện thời nay thấy cái tình của ông chệt già ở tiệm chạp phô làng mới cao thượng và đáng yêu làm sao! Con người dẫu có nguồn gốc từ đâu chẳng quan trọng. Điều quan trọng là con người đó sống trong lòng xã hội nào? Xã hội lành mạnh, trật tự, tôn ti pháp luật được đề cao, nền giáo dục nhân bản, lấy con người làm gốc. Ai cũng sẽ khiêm nhường khép mình vào khuôn khổ nhân văn. Xã hội tha hoá từ nóc thì đám dân đen bất lương cũng sẽ theo tấm gương tha hoá ấy mà tàn hại lẫn nhau! 
Mỗi lần trở về làng cũ. Đi ngang mảnh đất xưa một thời từng là tiệm chạp phô của ông tàu già những ký ức xưa lại về! Ừ mà tại sao chúng ta không yêu thương nhau vì chúng ta là đồng loại. Các xung khắc chủng tốc, phân biệt kỳ thị vùng miền, màu da, địa lý, ranh giới, lãnh thổ của con người hiện tại có phải từ nền tảng kích động hận thù từ thứ chủ nghĩa dân tộc cực đoan của mấy tay làm chính trị yếu kém và độc tài!?
Nhân loại khổ đau này sẽ còn chứng kiến triền miên tận những xung đột lãnh thổ quốc gia. Hãy để trò chơi bẩn thỉu và tàn bạo đó cho mấy nhà chính trị. Còn chúng ta, những con người không danh nghĩa hãy đứng ngoài cuộc. Hãy đừng hận thù vì tôi là... và vì anh là..., vốn được những nhà chính trị hám lợi định danh khiên cưỡng cho các nhóm nhỏ con người! 

Thứ Năm, 22 tháng 5, 2014

Câu chuyện Làng tôi và canh bạc chính trị.

Trong các tác phẩm sưu khảo xuất bản trước năm 1975-quyển Sa Đéc xưa và nay của tác giả Huỳnh Minh có điểm qua về sự hình thành và ra đời tỉnh lị này. Tỉnh lị Sa Đéc nằm dọc sông Tiền. trước đây nó thuộc vùng đất của người Thuỷ Chân Lạp. Có tên Phsar Dek-có nghĩa là chợ sắt. Tuy nhiên cũng có khá nhiều tranh cãi xung quanh cái tên này. Có người bảo nó là tên một vị thần người Khmer. Riêng mình thì tên Chợ Sắt có ý nghĩa hơn.
Hồi xưa Sa Đéc là vùng đất trù phú bao gồm các Làng Thượng Văn, An Tịch, Tân Hiệp,...Các làng này nằm dọc theo Sông Tiền. Bây giờ các làng này hoàn toàn biến mất do hiện tượng thuỷ phá bởi dòng sông Tiền.
Sa Đéc là vùng đất nằm giữa sông Tiến và sông Hậu. Hồi đó Sa Đéc có nhà thương Sa Đéc do Pháp xây. Tương truyền, khi người Pháp xây dựng nhà thương này nhà Bác Vật Lưu Văn Lang đã tiên đoán rằng nó sẽ biến mất do hiện tượng thuỷ phá. Lời tiên đoán này hoàn toàn chính xác vào cuối thập niên 70s đầu thập niên năm 1980s.
Hồi trước để đi qua nhà thương Sa Đéc-Xóm Chài, người dân phải qua cầu Sắt Quay rồi đi ngang Dinh Tham Biện, tiếp qua cầu  Nhà Thương. Cây cầu này nay cũng không còn. Thay vào đó là một con đê chắn ngay cửa sông Sa Đéc nối từ Dinh Tham biện(cũ) với phường 4 hiện nay( hồi xưa được gọi là Xóm Chài). Mục đích của con đập này là để chắn dòng chảy của sông Tiền vào phá huỷ chợ Sa Đéc. Xóm Chài hay còn gọi là Làng Tân Hưng. Làng này nổi tiếng có Đình Tân Hưng cực kỳ linh thiêng. Tương truyền khi đình bị thuỷ phá, dân làng xin xâm. Ông thần đình báo mộng rằng dân làng không được phép dỡ đình mà hãy để cho nó văng xuống sông. Dân trong làng đồn đại rằng do ông Thần của Đình Tân Hưng lỡ cờ bạc thua với bà thuỷ nên cầm cố đất đai và cả cái đình mà dân chúng thờ ông để có vốn gỡ tiếp?.
Câu chuyện của Đình Tân Hưng cũng tương tự câu chuyện Làng Thượng Văn khi xưa. Làng Thượng Văn là nơi chôn nhao cắt rốn của dòng họ bên ngoại. Hồi đó hầu như làng nào ở vùng Lục Tỉnh nam kỳ cũng có cái đình thờ thần.
Hằng năm có hội cúng đình, dân làng tổ chức rất hoành tráng. Mỗi khi cúng đình con nít khắp trong làng đều được ăn uống miễn phí. Thường trong mỗi kỳ cúng đình đều có lễ tống tiễn, thả bè trên sông. Các bè này dùng các thân cây chuối được kết lại làm thành chiếc bè. Bè được trang trí nhiều màu sắc sặc sỡ, cờ phướng loè lẹt. Trong mỗi bè đều có các đồ cúng dành cho âm binh, đồ cúng khi là cả con heo quay, vịt quay, bánh trái khá xôm tụ. Dân trong làng mê tín di đoan, chả ai dám ăn đồ tống tiễn. Duy chỉ lũ trẻ trâu là xơi tuốt. Hồi nhỏ mỗi khi thấy bè thả trôi sông mình cũng bơi ra kéo vào bờ để lục soát coi còn chút thức ăn nào không? Khi thì con tôm, miếng thịt luột, mấy quả trứng vịt, ít bánh men mềm nhũng nhẽo. Tất cả được gom lại xơi tuốt. Mặc cho bà già cấm đoán dữ lắm- ăn đồ cúng không nên?
Lễ hội cúng đình kéo dài cả tuần lễ. Hấp dẫn nhứt là được xem Hồ Quảng, Hát Bội, các vở tuồng được diễn trong lẽ cúng đình nào là Lương Sơn Bá_Chúc Anh Đài, Lưu Bình-Dương Lễ, Thoại Khanh-Châu Tuấn,...Thương nhất là mấy bà già trầu trong Làng rất mê mấy tuồng hát. Mỗi khi có dịp cúng đình làng, mấy bà khăn gói, trầu thuốc cắm trại tại lễ cúng Đình cả tuần!
Làng Thượng Văn khi xưa có thờ ông thần, nghe nói đâu ông này có công lao đánh tây nên được Nhà Nguyễn phong sắc Thần? Đình Thượng Văn cũng nổi tiếng linh thiêng. Duy có điều là dân làng bảo ông có máu cờ bạc, ngặt nỗi ông chơi chỉ toàn thua!? Hồi xưa làng nghèo nên việc cúng kiến chắc chẳng là bao nên mỗi khi thua bài, lão thần làng lại lấy đất làng cầm cố cho bà thuỷ? 
Hằng năm cứ mỗi mùa nước nổi, bà thuỷ về làng đòi đất. Cứ thế, năm này sang năm khác, dân làng Thượng Văn phải ba lần dời Đình. Hồi mới thua cuộc 30/4/75  ông già bị đuổi dạy sau khi đi học tập cải tạo tư tưởng. Cả nhà kéo về làng Tân Hiệp sinh sống, đình Thượng Văn khi ấy đã được dời về đây ngay đầu làng giáp với làng An Tịch. Do làng Thượng Văn bị bà Thuỷ lấy sạch đất. 
Có một giai thoại đồn thổi: "hễ dân làng Thượng Văn dời Đình tới đâu là bà thuỷ sẽ tới đó đòi đất. Quả thật, Đình Thượng Văn về làng Tân Hiệp thì làng này cũng bị thuỷ phá nặng nề và biến mất khỏi bản đồ hành chính! Nghe đâu Đình Thượng Văn giờ được dời qua xã Bình Thành, huyện Cao Lãnh. Theo dòng thời gian, đình bây giờ chẳng còn được dân làng quan tâm thờ cúng nên vì thế mà sự linh thiêng chẳng còn mấy!?
Từ câu chuyện các vị thần cờ bạc, cầm cố đất đai cho bà thuỷ mình liên tưởng đến cuộc cách mạng "giải phóng dân tộc" của Đảng ta. Tựu trung giống nhau ở một điểm chung là cờ bạc bằng tiền vay bạc hỏi. Cầm cố đất đai của tổ tiên để đổ vào canh bạc, lô đề chính trị. Cái thú của mấy nhà làm chính trị ngốc nghếch là bằng mọi giá, miễn sao nắm quyền lực trong tay. Bất chấp cái giả phải trả nặng nề!? Bởi vì họ hiểu, trả lãi vay cắt cổ,...thì con cái đời sau lo mà nai lưng ra trả. Chứ bản thân những nhà mưu lược có tầm nhìn ngắn chả hề quan tâm!? Tợ như câu nói của Mr Đam. "HS đời chúng tôi không đòi được thì đời sau con cháu sẽ đòi!" 
Điển hình hồi Pháp xây dựng cứ điểm ĐBP, khởi đầu cho cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Việt Minh tài chính nghèo nàn, đánh lén lút, quân đội chỉ là những nông dân nghèo chân đất, không được đào tạo, huấn luyện chi cả. Tướng thì tự phong-HCM phong ĐT cho Võ Nguyên Giáp. Họ có thừa lòng quyết tâm và ảo tưởng về cái chết cho một tương lai tươi sáng. Thực tế là VM phải trồng thuốc phiện để cải thiện tài chính mua súng đạn thặng dư sau đệ nhị thế chiến. Đồng thời nhận trợ giúp bằng bất cứ giá nào từ CS Trung Quốc để có vũ khí, thuốc men, thực phẩm, xe đạp thồ,...Thậm chí cả cố vấn quân sự với tinh thần quốc tế vô sản" vô tư", "trong sáng",  "không vụ lợi". Kết quả là có chiến thắng ĐBP vang dội địa cầu. "Mở" ra hàng loạt các cuộc cách mạng giải phóng thuộc địa lấy cảm hứng từ chiến thắng của dân tộc Việt Nam? 
Trên đà chiến thằng làm nên "thiên sử vàng" ấy. Đảng và nhà nước nghèo mạt rệp, tiếp tục vay nóng, vay cắt cổ để tiếp tục có tiền, có của đổ vào chiến tranh ý thức hệ hai miền nam-bắc. Miền bắc, với đội quân được tuyên truyền tuyệt vời, lòng căm thù sâu sắc, ý chí  có thừa. Đi cũng chết, không đi cũng chết(ở nhà cha mẹ bị đấu tố, cắt sổ gạo, suất điền thổ,...), nên đi là đi chiến đấu, đi là đi chiến thắng. Và họ đã thực sự chiến thắng.
Tuy nhiên cái chiến thắng thống nhất quốc gia, độc lập toàn vẹn lãnh thổ ấy nói vậy mà không phải vậy. Bởi cái gọi là giải phóng, chỉ phần nào nằm trong tay VNCH. Còn cái nằm trong tay tinh thần quốc tế vô sản, trong sáng, không vụ lợi thì bất khả thi. Người anh em đồng chí vô vụ lợi ấy đã kịp siết nợ đảm bảo cho khế ước công hàm năm 1958 từ tay người miền nam. Thống nhất về mặt địa lý hãy còn dang dỡ, huống chi lòng người còn mãi xa vời!
Từ đây, ông thần cộng sản mê canh bạc chính trị ấy cũng hằng năm phải dâng cúng một phần nợ nần qua biên giới, hải đảo, tài nguyên thiên nhiên,...dần dần tổ 'đại bàng" hình chữ S của những thần dân có ngôi đình cộng sản ấy teo tóp lại chỉ còn là tổ "chim chích"!
Từ tổ đại bàng của tiền nhân để lại nay dần thu nhỏ. Cái tâm lý bất an ấy đã hình thành nên đám con dân chỉ biết đào khoét, khai thác tận thu, làm ăn chụp giựt, mánh mun xảo trá, hại mình, hại lẫn nhau. Thằng lớn thì tham nhũng lớn, thằng nhỏ tham nhũng nhỏ. Tất cả bọn chúng bị tâm lý ăn xổi ở thì đè nặng: Mai này mảnh đất ấy rồi cũng của "người". Thôi thì vét được gì lúc nào hay lúc ấy, tranh thủ mọi cơ hội có miếng đất cắm dùi ở trời tây, sở hữu hai ba quốc tịch.Tương lai biết ra sao ngày sau!?
Từ dạo ấy,  làng nghèo An Hiệp-làng được đổi tên sau khi sáp nhập lại cả ba làng cũ hồi xưa- nay con cháu chỉ mỗi có nghề làm gạch mộc. cả làng từ giàu đến nghèo thi với bà thuỷ đào bới đất. Người có đất nhà đào đất nhà, người nghèo không đất thì đi trộm đất sắp lở của hàng xóm, mót đất sau khi người ta đã khai thác. Gạch mộc làng làm ra bán cho làng bên đốt lò gạch nung với giá rẻ mạt. Giờ thì cả làng chẳng còn đất làm gạch nữa. Đâu đâu trong làng cũng ao hồ lỏm chỏm. Từ đấy làng An Hiệp được cái tiếng làng nghèo nhất huyện Châu Thành-Tỉnh Đồng Tháp. Làng tôi cũng trở thành làng điển hình tiên tiến về cái vụ thờ mấy ông thần cờ bạc bịp đại diện cho tổ chim chích thờ thần cộng sản vốn là vua cờ bạc bịp tồi, khốn khó quanh năm.

Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

Tại sao phải chửi thay vì tán thưởng!?

Với một câu nói cực kỳ sâu sắc, đầy ấn tượng và ẩn ý: "Quốc hội tức là dân, dân quyết định sai thì dân chịu chứ kỷ luật ai!?" ông Nguyễn Sinh Hùng chủ tịch quốc hội nước CHXHCNVN của Đảng cộng sản đã bị cộng đồng mạng ném đá tơi bời không thương tiếc! Được biết, câu phát biểu đầy tính nhân văn này trong Hội nghị ĐBQH chuyên trách thảo luận về dự án luật Đầu tư công. Nỗi lo thất thoát, lãng phí, dàn trải, tham nhũng đã được đem vào để "cân chỉnh" hiệu quả của dự án luật này.
Theo quan điểm cá nhân, chúng ta hoàn toàn có thể hiểu được vì sao cộng đồng mạng quá bức xúc và ném đá không thương tiếc ông Hùng bởi câu nói trên.
Tuy nhiên khi đã bình tâm và suy xét mọi lý lẽ cho thật thấu đáo. Tôi nghĩ, với câu phát biểu đầy ẩn ý này của ông Hùng chúng ta nên ủng hộ và vào cuộc cùng ông hơn là thi nhau ném đá và chửi bới ông Hùng như cách làm bấy lâu nay. Bởi vì ông bức xúc một tập thể QH toàn những đại biểu làn nhàn, những vị nghị gật hơn là nghị vì dân, của dân!?
Quốc Hội khoá 13 lần này được đánh giá là Quốc Hội yếu kém nhất so với các kỳ QH khoá trước. Đây có lẽ là nhận định không cần phải nghi ngờ gì về tính xác thực của nó. Phần lớn trong chúng ta ai cũng nhớ vị đại biểu HĐND TP HCM khá nổi tiếng vì những phát biểu khá mạnh bạo của ông ta trong các kỳ họp HĐND-ông hội đồng Khoa đã phải rút lui sau khi tự ứng cử vào  QH khoá 13 vì những áp lực không nói ra nhưng ai cũng biết. Rồi thì hàng loạt các đại biểu QH có tiếng nói mạnh mẽ khác như ông Nguyễn Minh Thuyết cũng không được tái cơ cấu vào QH khoá 13,...với hàng loạt các động thái vừa cảnh cáo, vừa đe doạ thế kia thì việc vì sao các đại biểu QH khoá này ít có những tiếng nói mạnh mẽ thường thấy trước đây. Mà thay vào đó, một Quốc Hội đầy đủ các tiêu chí đảng cử dân bầu và ngoan như trẻ nít. Phát biểu thì chán như con gián, ngại va chạm, chỉ biết bảo vệ lợi ích của ai đó đã cử mình hơn là lợi ích vì dân bị "buộc" phải bầu mình! 
"Quốc hội tức là dân, dân quyết định sai thì dân chịu chứ kỷ luật ai!?", qua câu phát biểu nổi tiếng này ông Hùng muốn đá trách nhiệm chống độc tài, đầu tư công thảm hại, tham nhũng lãng phí khắp nơi về cho dân quyết. 
Hơn ai hết, là người đứng đầu một QH. Có lẽ ông Hùng thấy rõ từng đường tơ kẽ tóc của một QH yếu kém và đáng buồn hiện nay. Ông biết, với thời gian còn lại chẳng là bao. Việc mạnh dạn khơi gợi lại vai trò và trách nhiệm của cử tri là quan trọng và cần thiết hơn cả và cũng là phần nào cho thấy ông chán ngấy mớ bòng bong đại biểu đại diện cho Đảng.
Ông hiểu từng cá nhân khi cầm trong tay tấm phiếu bầu cho các vị đại biểu Đảng cử là đáng hỗ thẹn. E ngại tự ứng cử vào công việc của chính mình là nỗi nhục. Nhắm mắt đi bầu cho ai đó không đủ năng lực, không đại diện quyền lợi của mình là thiểu năng trí tuệ,...
Ta thường nghe thấy các biểu ngữ giăng đầy đường phố, phát ầm ĩ trên la dô, trên vô tuyến, phát ra rả trên loa phường xã, mọc dầy đặc trên các trang nhất báo Đảng,.."Cử tri hãy sáng suốt lựa chọn những người có đủ đức đủ tài để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân" trong các kỳ bầu cử HĐND, bầu cử đại biểu QH.
Bằng phát biểu trên, ông Hùng muốn nhấn mạnh, liệu từng cử tri đã thật sự sáng suốt lựa chọn người tài đức phụng sự nhân dân, phụng sự tổ quốc? Hay bản thân từng cử tri chỉ là những cỗ máy được lập trình xuẩn ngốc, hèn nhát, vô trách nhiệm, đầy sợ hãi, vô cảm,...đi bầu chỉ vì khiếp hãi quyền lực!
Với phát biểu ẩn ý của ông Hùng thì việc đầu tư công tham nhũng lãng phí, không hiệu quả như Bô xít, Vinashin, Vinalines,...được quốc hội tồi thông qua liệu những cử tri tồi, u minh có vô can!? Cử tri các anh có im lặng bầu những ĐB của đảng cử không? Nếu có thì chính anh đã tham gia vào cái sự quyết ấy thì anh phải chịu! Còn nếu anh bảo là anh không thể có cách làm gì khác để thể hiện quyền của mình trong xã hội tù ngục này thì liệu anh đã làm hết trách nhiệm công dân?
Ý Đảng lòng dân. Đã bao giờ anh dám thể hiện cái phật lòng mình với ý Đảng tồi chưa, thay vào đó tặc lưỡi cho qua!?
"Quốc hội tức là dân, dân quyết định sai thì dân chịu chứ kỷ luật ai!?" Đã đến lúc từng cá nhân, mỗi cử tri phải vào cuộc quyết định trò chơi dân chủ của mình. Chúng ta có quyền tẩy chay, từ chối tham gia trò chơi mị dân mà bấy lâu nay Đảng độc quyền khuynh loát. Chính sự im lặng hèn nhát của cử tri nên ông Hùng phải bức xúc lên tiếng như trên.
Chừng nào chúng ta còn im lặng cúi đầu tham gia trò chơi quyền lực của kẻ độc tài thì chừng đó chúng ta còn nghe câu nói này của ông Hùng vang lên như thách thức sự nhu nhược của chúng ta. 
Hãy đứng lên, can đảm và từ chối trò chơi quyền lực thô bĩ mà chỉ dẫn đến sự lạm quyền, độc tài và đang từng ngày, từng tháng, từng năm làm băng hoại cả dân tộc, đất nước từ đạo đức đến văn hoá, đến sự toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ. Hãy chứng minh cho ông Hùng thấy cái gì dân thực sự quyết thì dân chịu. Còn cái mà chúng ta đang thấy qua phát biểu của ông Hùng chỉ là Đảng quyết trên sự khiếp sợ của chúng ta với quyền lực!
Liệu chúng ta có dám!!!!????